Hàng trăm tàu dầu đang mắc kẹt ở hai đầu eo biển Hormuz, sau khi Iran gần như phong tỏa hoàn toàn tuyến hàng hải quan trọng này nhằm đáp trả chiến dịch tấn công của Mỹ - Israel. Động thái khiến hoạt động vận chuyển dầu khí bị đình trệ, đẩy giá nhiên liệu khắp thế giới tăng vọt.
Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố sẽ mở lại eo biển Hormuz "bằng cách này hay cách khác". Dù vậy, đây được cho là nhiệm vụ vô cùng khó khăn mà Mỹ chưa thể thực hiện trong gần một tháng qua, dù sở hữu sức mạnh quân sự vượt trội.
Theo giới chuyên gia, eo biển Hormuz là một trong những "nút thắt" có địa hình hiểm trở nhất thế giới, nằm giữa khu vực có nhiều núi cao của Iran ở phía bắc và những dãy núi đá hiểm trở của Oman ở phía nam, khiến phần hẹp nhất của nó chỉ có bề rộng khoảng 34 km.
Để di chuyển qua eo biển này, tàu thuyền phải men theo hai tuyến hàng hải rất hẹp ở chính giữa với tốc độ chậm. Bất cứ ai kiểm soát các điểm cao ven eo biển đều có thể bao quát gần như toàn bộ khu vực và mọi hoạt động của tàu thuyền qua đây.
Điều này giúp Tehran có thể triển khai hiệu quả chiến thuật tác chiến bất đối xứng, trong đó sử dụng vũ khí có kích thước nhỏ, được bố trí phân tán và dễ cất giấu bên trong vách núi, hang động hoặc đường hầm ven biển, khiến đối phương khó phát hiện để tiêu diệt toàn bộ. Khi cần, Iran sẽ triển khai chúng dọc theo bờ biển để tấn công tàu thuyền di chuyển gần đó.
Địa hình xung quanh eo biển Hormuz. Ảnh: StockTrek
Nếu không có địa hình đồi núi ven biển hoặc tàu thuyền di chuyển ở xa bờ hơn, Tehran sẽ khó áp dụng chiến thuật này. "Iran đã tính toán rất kỹ về cách lợi dụng địa hình", Caitlin Talmadge, giáo sư về an ninh vùng Vịnh tại Viện Công nghệ Massachusetts, Mỹ, cho biết.
Nếu bị tấn công bằng tên lửa hoặc máy bay không người lái (UAV) khi đi qua vùng biển vừa hẹp vừa nông này, ngay cả chiến hạm cũng rất khó ứng phó.
"Họ có rất ít thời gian tính từ khi phát hiện mối đe dọa", cựu sĩ quan hải quân Jennifer Parker, chuyên gia tại Đại học Quốc gia Australia, cho biết. "Tùy vào tốc độ của tên lửa và UAV, thủy thủ trên tàu chiến có thể chỉ có vài phút để tìm cách đối phó và hạ chúng".
Hỏa lực ẩn giấu
Ngoài tên lửa và UAV, Iran còn các phương pháp khác để tấn công tàu thuyền đi qua eo biển Hormuz như xuồng cao tốc mang theo thuốc nổ và thủy lôi. Chúng đều là những loại "hỏa lực ẩn giấu" rất khó bị phát hiện.
Tổng thống Trump đã gửi đi các thông điệp trái chiều về cách ông hy vọng sẽ giúp mở cửa lại eo biển Hormuz. Lãnh đạo Mỹ hôm 23/3 gợi ý rằng có thể cùng Lãnh tụ Tối cao Iran Mojtaba Khamenei kiểm soát tuyến hàng hải quan trọng này. Dù vậy, hầu hết các phương án mà Washington đang xem xét đều liên quan đến quân sự.
Bước đầu tiên để Mỹ có thể mở lại eo biển Hormuz bằng vũ lực là loại bỏ năng lực tấn công tàu thuyền của Iran. Theo công ty dữ liệu hàng hải Kpler, đã có 17 tàu hàng bị tập kích trúng kể từ khi xung đột bùng phát ở Trung Đông vào cuối tháng 2.
Mỹ và Israel đã tiến hành hàng nghìn cuộc tấn công nhằm vào các mục tiêu quân sự tại Iran, song vẫn chưa thể ngăn đối phương tiếp tục khai hỏa. Tìm kiếm và phá hủy toàn bộ địa điểm mà Tehran cất giấu, triển khai vũ khí có khả năng là việc bất khả thi.
Khu trục hạm USS Bulkeley khai hỏa tên lửa trong chiến dịch tập kích Iran hôm 15/3. Video: US Navy
"Có rất nhiều nơi để họ triển khai khẩu đội tên lửa. Những khẩu đội này có tính di động nên khó tìm kiếm và nhắm mục tiêu", Mark Cancian, cố vấn cấp cao tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), nhận định.
Ông Trump đã kêu gọi điều tàu hải quân để hộ tống tàu hàng đi qua eo biển Hormuz, nhưng Cancian cho rằng sẽ là chiến dịch quy mô rất lớn và tốn kém.
"Sẽ cần có tàu quét mìn để rà phá thủy lôi nếu chúng đã được rải, cũng như máy bay làm nhiệm vụ đánh chặn UAV và tập kích các khẩu đội tên lửa trên bờ", chuyên gia này cho hay.
Chiến dịch này cũng đặt ra bài toán về lực lượng. Economist dẫn lời giới chuyên gia hàng hải cho biết cứ vài tàu chở dầu sẽ cần một tàu khu trục hộ tống, do chúng thường di chuyển sát nhau khi đi qua eo biển.
Hải quân Mỹ hiện có 14 khu trục hạm hoạt động ở khu vực, song 6 chiếc đang làm nhiệm vụ bảo vệ tàu sân bay. Điều động thêm chiến hạm đến vùng Vịnh sẽ phải mất vài tuần, đồng thời làm suy giảm hiện diện quân sự của Mỹ ở các khu vực khác trên thế giới.
Tuy một số đồng minh với Washington có thể sẵn lòng giúp đỡ, hầu hết đều ngần ngại với việc điều tàu chiến đến trong lúc xung đột vẫn đang diễn ra.
Bên cạnh đó, phương án này cũng khiến bản thân các chiến hạm phải đối mặt với rủi ro.
"Hệ thống phòng thủ trên khu trục hạm được thiết kế cho những tình huống khác hẳn giao tranh tầm gần tại eo biển này. Mọi bộ phận trên tàu khu trục đều dễ bị tổn thương trước các cuộc tấn công bằng tên lửa hoặc UAV", Eugene Gholz, phó giáo sư về khoa học chính trị tại Đại học Notre Dame, nhận định.
Thủy lôi dường như là mối đe dọa lớn nhất. Jonathan Schroden, chuyên gia tại viện nghiên cứu quốc phòng CNA, cho rằng tình hình sẽ "thay đổi hoàn toàn" nếu Iran thật sự rải thủy lôi ở eo biển Hormuz.
"Không lực lượng hải quân nào muốn đưa chiến hạm chủ lực của mình đến nơi có thể hoặc đã bị rải thủy lôi", Schroden cho hay.
Tàu chiến đấu ven biển USS Santa Barbara tại Singapore hôm 18/3. Ảnh: X/Warship Cam
Thách thức còn lớn hơn với Mỹ khi hải quân nước này từ lâu đã không chú trọng đến năng lực rà phá thủy lôi. Washington hồi tháng 1 loại bỏ các tàu quét mìn lớp Avenger cuối cùng còn hoạt động tại Trung Đông. Mỹ có ba tàu chiến đấu ven biển được trang bị bộ quét mìn để thay thế các tàu lớp Avenger, song hai trong số đó hiện ở châu Á thay vì vùng Vịnh.
Nếu diễn ra, quá trình rà phá thủy lôi sẽ kéo dài vài tuần và khiến thủy thủ đoàn Mỹ đối diện với nguy hiểm trực diện từ đòn tấn công của Iran. Tàu quét mìn của Mỹ di chuyển chậm và sẽ cần được bảo vệ, trong đó có yểm trợ hỏa lực từ trên không.
Rủi ro quá lớn
Mỹ đang triển khai thủy quân lục chiến đến Trung Đông và lực lượng này có thể được sử dụng để tiến hành các chiến dịch trên bộ, như đột kích hoặc thiết lập lưới phòng không để bảo vệ tàu, New York Times dẫn lời giới chuyên gia cho hay.
Họ cho rằng xét đến quy mô lực lượng lục quân Iran, thủy quân lục chiến Mỹ có thể sẽ chỉ đổ bộ lên các đảo trong eo biển Hormuz, thay vì tiến sâu vào đất liền. Dù vậy, Tổng thống Trump có thể sẽ không chọn phương án này để tránh nguy cơ hứng tổn thất và sa lầy vào một cuộc chiến lâu dài.
"Cục diện sẽ thay đổi hoàn toàn nếu lính Mỹ tác chiến trên bộ bị phía Iran bắt làm tù binh hoặc bắn hạ", Parker cho hay.
Ngay cả khi Mỹ đã tiến hành chiến dịch lớn nhằm bảo vệ tàu dầu đi qua eo biển Hormuz, không dễ để tuyến hàng hải này ngay lập tức nhộn nhịp trở lại. Để điều đó xảy ra, các chủ tàu và công ty bảo hiểm cần tin rằng phương tiện hộ tống sẽ cung cấp đầy đủ sự bảo vệ cần thiết. Chỉ cần một tàu bị tập kích trúng cũng đủ khiến niềm tin của họ sụt giảm.
Thách thức còn lớn hơn khi lực lượng hộ tống chỉ có thể bảo vệ một vài tàu cùng một lúc, trong khi số lượng phương tiện cần di chuyển qua eo biển Hormuz là rất lớn. Hồi tháng 2, trước khi xung đột bùng phát, có khoảng 80 tàu chở dầu và khí đốt đi qua eo biển này mỗi ngày.
"Điều quan trọng là phải trấn an các công ty vận tải biển và thị trường bảo hiểm rằng rủi ro đã đủ thấp để cho tàu di chuyển qua eo biển", Kevin Rowlands, chuyên gia hàng hải tại Viện Nghiên cứu Quốc phòng và An ninh Hoàng gia Anh (RUSI), nêu quan điểm.
Trực thăng MH-60S thả hàng xuống tàu khu trục USS Winston S. Churchill trong khuôn khổ chiến dịch tập kích Iran hôm 16/3. Ảnh: US Navy
Thực hiện chiến dịch hộ tống quy mô lớn cũng sẽ khiến Mỹ phải phân tán lực lượng, giảm bớt số đơn vị đang làm các nhiệm vụ khác trong chiến dịch, ví dụ tập kích Iran.
Ngoài ra, do Iran còn nhắm mục tiêu cả tàu ở vịnh Ba Tư và vịnh Oman, những phương tiện này vẫn cần được bảo vệ ngay cả khi đã di chuyển qua eo biển Hormuz, điều khiến lực lượng hộ tống mất thêm nhiều thời gian hơn.
"Tôi nghĩ giao thông qua eo biển Hormuz sẽ bị ảnh hưởng chừng nào vẫn còn mối đe dọa từ Iran đối với khu vực này", Talmadge cho hay. "Sẽ cần giải pháp về chính trị và ngoại giao để mọi thứ thật sự trở lại bình thường".
Phạm Giang (Theo New York Times, Economist, AFP)