Trả lời:
Hạ khô thảo có tên khoa học Brunella (Prunella) vulgaris L. Ta dùng cụm hoa và quả phơi hay sấy khô (Flos Brunellae cum Fructu) của cây hạ khô thảo. Theo người xưa, cây này sau ngày hạ chí (mùa hạ) thì khô héo nên gọi là hạ khô thảo (trên thực tế ở nước ta, mùa hạ cây vẫn tươi tốt).
Hạ khô thảo là một cây sống dai, thân vuông màu hơi tím đỏ, lá mọc đối, hình trứng hay hình mác dài, mép nguyên hoặc hơi có răng cưa, có ít lông ở thân và lá. Cụm hoa mọc ở đầu cành giống như bông do nhiều hoa có cuống ngắn mọc vòng, mỗi vòng có 5-6 hoa. Cánh hoa màu tím nhạt, hình môi, môi trên như cái mũ, môi dưới xẻ ba, thùy giữa rộng hơn. Nhị 2 dài, 2 ngắn, đều thò ra khỏi tràng. Bầu có bốn ngăn. Vòi nhỏ dài. Quả nhỏ cứng. Cây có ở Sapa (Lào Cai), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Hà Giang.
Hạ khô thảo vị đắng, cay, tính hàn, không độc, có tác dụng thanh can hỏa, tán uất kết, tiêu ứ, sáng mắt.
Chữa tràng nhạc: Hạ khô thảo 5 lạng (200 g) đun lấy nước đặc uống trước khi ăn cơm 2 giờ. Cũng bệnh trên, có thể dùng hạ khô thảo, hương phụ, bối mẫu, viễn chí cùng đun lấy nước đặc uống.
Chữa xích bạch đới: Hạ khô thảo tán nhỏ, mỗi lần uống 8 g với nước cơm.
Thông tiểu tiện: Hạ thảo khô 8 g, hương phụ tử 2 g, cam thảo 1 g, nước 600 ml, sắc còn 200 ml, chia làm 3 lần uống trong ngày.
Bị đánh hay bị thương: Dùng hạ khô thảo tươi tán nhỏ đắp vào vết thương.
Có thể dùng vị này chữa bệnh cao huyết áp với liều 6-15 g dưới dạng thuốc sắc.
GS Đỗ Tất Lợi, Sức Khỏe & Đời Sống