Trả lời:
Cúc hoa còn gọi là cam cúc hoa, bạch cúc hoa, cúc hoa trắng, cúc điểm vàng, hoàng cúc, tên khoa học Chrysanthemum sinense Sabine. Vị cúc hoa (Flos Chrysanthemi) là hoa cúc phơi hay sấy khô. Người ta còn dùng cả hoa của cây cúc hoa vàng hay dã cúc, kim cúc, cúc riềng vàng Chrysanthemum indicum L.
Cúc hoa trắng Chrysanthemum sinense là một cây sống 2 năm, thân mọc thẳng đứng, có thể cao 0,5-1,4 m. Cụm hoa hình đầu, màu trắng hay hơi tía ở phía ngoài, vàng ở giữa, mọc ở đầu cành hay kẽ lá.
Cúc hoa vàng Chrysanthemum indicum là cây mọc thẳng đứng, cao chừng 90 cm. Cụm hoa hình cầu, đường kính nhỏ hơn loài hoa cúc nói trên, thường chỉ độ từ 1-1,5 cm (loài trên đo được 2,5-5cm). Hoa bên trong và ngoài đều màu vàng.
Theo tài liệu cổ, hoa cúc trắng vị ngọt, đắng, tính hơi hàn; cúc hoa vàng vị đắng cay, tính ôn; có tác dụng tán phong thấp, thanh đầu mục, giáng hỏa, giải độc; chữa hoa mắt, nhức đầu, mắt đỏ đau, nhiều nước mắt, đinh nhọt. Hiện nay, cúc hoa được dùng trong nhân dân làm thuốc chữa các chứng nhức đầu, đau mắt, chảy nước mắt, cao huyết áp, sốt. Liều dùng 9-15 g dưới dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác. Dùng ngoài rửa, đắp mụn nhọt.
Chữa ho và sốt, cảm mạo: Tang diệp, cúc hoa mỗi vị 6 g; liên kiều, bạc hà, cam thảo, cát cánh mỗi vị 4 g; nước 600 ml. Sắc còn 200 ml, chia 3 lần uống trong ngày.
Chữa chóng mặt, hoa mắt, mắt đỏ, mũi tắc: Cúc hoa, xuyên khung, kinh giới, bạc hà, phòng phong, khương hoạt, hương phụ, cam thảo, bạch chỉ, tế tân, khương tàm lượng bằng nhau, trộn đều, tán nhỏ. Sau bữa ăn dùng nước chè chiêu thuốc, mỗi lần uống 4-6 g bột này.
GS Đỗ Tất Lợi, Sức Khỏe & Đời Sống