Bằng cử nhân cõng chứng chỉ
Phạm Hòa Hiệp
Giảng viên
Tôi từng dạy và gặp không ít người học văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh.
Nhiều người thẳng thắn nói họ cần tấm bằng hơn là một trình độ tiếng Anh thực sự cao. Điều đó không khó hiểu, bởi trong nhiều cơ quan và doanh nghiệp, văn bằng vẫn là điều kiện để được xem xét, trước cả khi năng lực được kiểm chứng.
Nhưng tấm bằng Ngôn ngữ Anh có thể nói lên điều gì về khả năng sử dụng tiếng Anh của người sở hữu?
Câu hỏi ấy trở nên thời sự khi Bộ Giáo dục và Đào tạo mới đây yêu cầu siết chặt chất lượng đào tạo văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh, dự định yêu cầu người học phải có chứng chỉ xác nhận trình độ C1 trước khi được cấp bằng. Động thái này diễn ra trong bối cảnh quy mô đào tạo văn bằng 2 Ngôn ngữ Anh tăng nhanh; từ 2023 đến 2025, số người học theo hình thức chính quy và vừa làm vừa học đã tăng từ 10.613 lên 17.113 người, tức hơn 60%.
Theo Khung tham chiếu trình độ ngôn ngữ chung châu Âu (CEFR), C1 là mức sử dụng ngôn ngữ thành thạo, cho phép người học hiểu các văn bản phức tạp, diễn đạt lưu loát, lập luận có cấu trúc và sử dụng ngôn ngữ linh hoạt trong môi trường học thuật, nghề nghiệp.
Yêu cầu C1 là một tín hiệu tích cực. Nhưng nếu một người đã hoàn thành chương trình cử nhân Ngôn ngữ Anh mà vẫn cần thêm chứng chỉ để chứng minh năng lực, vậy kết quả đào tạo của trường đại học có ý nghĩa gì?
Tại sao phải cần thêm một chứng chỉ bên ngoài?
Có thể lập luận rằng đánh giá độc lập giúp kiểm soát chất lượng, nhất là khi chuẩn đánh giá giữa các trường chưa đồng đều. Điều này có cơ sở. Một kỳ thi được tổ chức nghiêm túc, với tiêu chuẩn rõ ràng, có thể phát hiện khoảng cách giữa điểm số trong nhà trường và năng lực thực tế.
Nhưng nếu chứng chỉ bên ngoài lại trở thành bằng chứng đáng tin cậy hơn toàn bộ kết quả học tập trong trường, thì điều đó đồng nghĩa với việc thừa nhận văn bằng đại học không thực chất.
Một người học có thể hoàn thành tất cả học phần, tích lũy đủ tín chỉ, vượt qua các kỳ thi và được xác nhận hoàn thành chương trình, nhưng vẫn không đạt C1. Khi ấy, trách nhiệm trước hết thuộc về nhà trường, vì đã không phát hiện và khắc phục khoảng cách ấy trong suốt quá trình đào tạo. Người học đương nhiên phải nỗ lực, nhưng hệ thống đánh giá nội bộ nếu không phân biệt được người đạt chuẩn với người chưa đạt thì đó là lỗi của thiết kế chương trình và kiểm tra.
Không thể chỉ đổ lỗi hoàn toàn cho người học, cũng không thể chỉ đổ lỗi cho nhà trường. Nhưng nếu trách nhiệm bị phân tán đến mức không ai phải chịu, thì chính hệ thống đào tạo đang tự làm suy yếu giá trị của văn bằng mình cấp.
Văn bằng 2 thường được thiết kế linh hoạt, cho phép công nhận tín chỉ đã tích lũy từ chương trình trước và rút ngắn thời gian học. Về nguyên tắc, điều này hợp lý. Việc công nhận kiến thức đã học trước là thông lệ phổ biến ở nhiều hệ thống giáo dục đại học trên thế giới, trong đó có Australia và New Zealand. Các trường đại học ở những nước này thường cho phép người đã có bằng cử nhân được miễn một phần tín chỉ khi học thêm một bằng khác, nhằm tránh lãng phí thời gian và nguồn lực. Một người đã có bằng đại học không nhất thiết phải học lại những kiến thức đại cương đã được công nhận. Tuy nhiên, việc miễn giảm tín chỉ không đồng nghĩa với giảm năng lực chuyên môn.
Đối với ngành Ngôn ngữ Anh, sự khác biệt này đặc biệt quan trọng. Một người có bằng cử nhân kinh tế hoặc kỹ thuật có thể được miễn một số học phần chung. Trong khi đó năng lực nghe, nói, đọc, viết tiếng Anh ở trình độ cao không tự nhiên hình thành từ tấm bằng thứ nhất. Người học cần thời gian, môi trường thực hành, phản hồi và quá trình tích lũy lâu dài. Nếu thời gian đào tạo rút ngắn mà trình độ đầu vào chưa đủ vững, chương trình phải có giải pháp bù đắp tương ứng. Không thể kỳ vọng chỉ bằng việc hoàn thành một số học phần chuyên ngành, người học sẽ tự động đạt C1.
Ở đây còn một nghịch lý khác. Trong một xã hội vẫn coi trọng văn bằng như điều kiện tuyển dụng, xét lương hay thăng tiến, việc bổ sung yêu cầu chứng chỉ có thể vô tình tạo ra thị trường mới cho các khóa luyện thi. Người học vốn chỉ cần một tấm bằng, nay lại phải tìm thêm một tấm chứng chỉ.
Liệu có thể chống bệnh sính bằng cấp bằng cách yêu cầu thêm một loại giấy tờ?
Tôi không có lý do gì để phản đối chuẩn C1. Trái lại, tôi tin rằng chuẩn đầu ra càng rõ ràng thì càng cần được thực thi nghiêm túc. Nhưng chính sách sẽ khó đạt mục tiêu nếu chỉ tập trung vào điều kiện cấp bằng mà không xem xét toàn bộ quá trình đào tạo: tuyển sinh có đánh giá đúng trình độ đầu vào không, chương trình có đủ thời lượng phát triển năng lực không, giảng viên có đủ điều kiện giảng dạy không, và các kỳ thi có thực sự phân biệt được người đạt chuẩn với người chưa đạt chuẩn không?
Tôi lo rằng nếu xã hội ngày càng phải dựa vào những chứng chỉ bên ngoài, chứng chỉ quốc tế để xác nhận lại những gì trường đại học đã chứng nhận, thì điều cần xem xét không chỉ là năng lực của người tốt nghiệp, mà còn là độ tin cậy của giáo dục đại học trong nước.
Phạm Hòa Hiệp