![]() |
|
Đôla hoá chưa hẳn là xấu. |
Vụ Quản lý Ngoại hối (Ngân hàng Nhà nước) là đầu mối thực hiện đề án này và phải hoàn tất trình Thủ tướng trong quý II. Theo Vụ phó kiêm Trưởng ban soạn thảo Phí Đăng Minh, xét về mặt khách quan, đồng tiền có tính chuyển đổi cao chính là đồng tiền mạnh, có uy tín, ở trong nước dễ dàng đổi ra ngoại tệ, ở ngoài nước có thể sử dụng trực tiếp làm phương tiện thanh toán quốc tế, được mua bán trên thị trường ngoại hối, thậm chí còn có thể sử dụng làm dự trữ ngoại hối của các quốc gia. Đi kèm với một đồng tiền chuyển đổi, đòi hỏi sự tự do hoá các giao dịch vốn cũng như giao dịch vãng lai. Trong khi đó, hiện tượng đôla hoá được xem xét theo tỷ lệ tổng lượng tiền gửi ngoại tệ/tổng phương tiện thanh toán (FCD/M2). Đôla hoá xuất hiện do kinh tế chưa bền vững, niềm tin vào đồng bản tệ chưa vững chắc.
|
Kết quả khảo sát trong các giai đoạn từ 1988 đến nay của Ban soạn thảo đề án cho thấy, tính chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam vẫn thấp và hiện tượng đôla hoá chưa được khắc phục một cách cơ bản. Những năm đầu mới mở cửa, mức độ đôla hoá tăng mạnh, tỷ lệ có lúc lên đến 41,2%. Giai đoạn từ sau khủng hoảng khu vực đến nay, sau một thời gian ổn định ở mức tương đối thấp khoảng trên 20%, tỷ lệ này lại có dấu hiệu tăng lên, do đồng USD trên thị trường thế giới có tính hấp dẫn cao, trong khi chênh lệch lãi suất tiền gửi có lợi cho giữ ngoại tệ. Đáng chú ý là từ 2004, khi lạm phát ở mức 9,5% và lãi suất USD trên thế giới tăng, chênh lệch lãi suất giữa VND và ngoại tệ trong nước giảm thì hiện tượng đôla hoá đang có biểu hiện gia tăng trở lại, đạt gần 24%. |
Ban soạn thảo cho rằng, nâng cao tính chuyển đổi của VND và hạn chế đôla hoá là hai công việc có mối quan hệ hữu cơ, qua lại lẫn nhau. Đôla hoá làm mất chủ quyền về tiền tệ, làm giảm vị thế độc tôn của đồng bản tệ, giảm khả năng chuyển đổi của đồng tiền. Ngược lại một đồng tiền mạnh sẽ giúp đẩy lùi nạn đôla hoá. "Lúc mới bắt tay vào đề án này, tự chúng tôi cũng thấy hai nhiệm vụ này có vẻ mâu thuẫn với nhau. Nếu nâng cao tính chuyển đổi phải tự do hoá các giao dịch vốn cũng như giao dịch vãng lai, tức là phải nới lỏng. Trong khi hạn chế đôla hoá lại là thắt chặt lại. Tuy nhiên, xem xét kỹ thì thấy hai nhiệm vụ này quan hệ khăng khít với nhau", Vụ phó Ngoại hối Phí Đăng Minh nhấn mạnh.
Đồng tình với quan điểm này, Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) Lê Văn Sở cho rằng tỷ lệ đôla hoá ở Việt Nam hiện lên tới 24% là nghiêm trọng và quá cao so với các nước trong khu vực (Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia chỉ 1-7%). Ông cho biết thêm, riêng Agribank trong năm 2004, lượng tiền gửi USD đã tăng thêm 490 triệu USD, tương đương 44,6%; tốc độ tăng trưởng tín dụng ngoại tệ cũng lên tới 60%. Vì vậy, theo ông Sở, cần phải có cơ chế tỷ giá linh hoạt, ổn định nhằm khắc phục tâm lý lo ngại, thiếu niềm tin vào đồng VND. Đồng thời nâng lãi suất cho vay USD tiến tới ngang bằng VND, hạn chế cho vay ngoại tệ; hạn chế tiến tới chấm dứt việc tăng lãi suất huy động USD, nâng cao lãi suất tiền gửi VND...
Tuy nhiên, đa số các nhà băng khác và ngay cả Học viện Ngân hàng (trực thuộc Ngân hàng Nhà nước) đều không hài lòng với cách đặt vấn đề cũng như các giải pháp được nêu ra trong đề án. Hết sức dè dặt, song bà Trần Thu Hà, Phó tổng giám đốc Ngân hàng Ngoại thương (VCB) thẳng thắn cho rằng: "Tôi có cảm tưởng đề án này không khả thi, có nhiều vấn đề phải phân tích kỹ hơn, kể cả lý thuyết. Hai nội dung nâng cao tính chuyển đổi của đồng tiền và hạn chế đôla hoá không hoàn toàn phụ thuộc và quan hệ với nhau. Trên thực tế đó là nội dung độc lập với nhau". Theo bà Hà, ngân hàng thương mại rất mừng nếu các giao dịch ngoại tệ được tự do hoá, song e rằng giải pháp đó chưa thể thực hiện ngay theo lộ trình mà ban soạn thảo đề ra (từ 2006). Hơn nữa, nếu để giảm thiểu đôla hoá phải hạn chế kinh doanh ngoại tệ, đặc biệt là hạn chế cho vay bằng ngoại tệ, như vậy sẽ khó khăn cho các ngân hàng.
Khi giới thiệu đề án với đông đảo đại biểu hôm 14/6 vừa qua, ban soạn thảo đã nhanh chóng lướt qua phần lý thuyết, khái niệm cơ bản liên quan tới đồng tiền chuyển đổi cũng như tình trạng đôla hoá, nhằm dành thời gian phân tích thực trạng và để xuất giải pháp cho vấn đề này. Tuy nhiên, nhiều đại biểu cho rằng, đề án cần quay về xem xét kỹ ngay từ những khái niệm cơ bản để làm rõ thế nào là đồng tiền chuyển đổi, thế nào là đôla hoá.
Với nội dung nâng cao tính chuyển đổi của VND, ông Nguyễn Đình Quang, phó Chánh thanh tra Ngân hàng Nhà nước, cho rằng, đề án chưa tách bạch hai khái niệm đồng tiền chuyển đổi và đồng tiền mạnh. "Muốn tìm giải pháp nâng cao tính chuyển đổi của đồng tiền trước hết phải làm rõ và tách bạch 2 khái niệm đồng tiền mạnh và đồng tiền chuyển đổi. Nếu đặt mục tiêu đồng tiền của chúng ta được quốc tế chấp nhận thì còn lâu mới thực hiện được".
Dưới góc độ một nhà nghiên cứu, Phó giám đốc Học viện Ngân hàng, bà Tô Kim Ngọc cho rằng đề án thiếu hẳn các yếu tố mang tính nền tảng, chưa giải thích rõ các khái niệm vì vậy các giải pháp đưa ra chưa khả thi. "Nên bắt đầu nghiên cứu từ khái niệm, đặc biệt là phân rõ mức độ khác nhau của khái niệm đồng tiền mạnh và đồng tiền chuyển đổi. Nếu không, có đưa ra các giải pháp cụ thể cũng không thể giải quyết vấn đề ngay được. Trên thế giới chỉ có vài đồng tiền mạnh. Ở Việt Nam hiện nay, chỉ cần làm sao để người ta không phải suy nghĩ khi cầm đồng bản tệ".
Với nội dung đôla hoá, rất ít ý kiến đề cập đến ngay trong hội thảo, song nhân lúc nghỉ giữa giờ, những cuộc bàn luận sôi nổi đã nổ ra. Nguyên nhân sâu xa mà cả ban soạn thảo và các nhà nghiên cứu, kinh doanh ngân hàng đều nhận thấy đó là đôla hoá xuất phát từ tâm lý thiếu tin tưởng vào đồng nội tệ. Theo ông Phí Đăng Minh, nhất thiết phải hạn chế tình trạng này và từ nay đến 2010 sẽ phấn đấu đưa xuống dưới 15%, thay vì mức trên 20% như hiện nay. Thậm chí, ban soạn thảo còn đề xuất áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao đối với phần vượt. Tuy nhiên, giới chuyên môn lại cho rằng, khó có thể khẳng định rõ ràng đôla hoá tốt hay xấu. Xét về lý thuyết kinh điển thì đôla hoá tạo ra tâm lý hai đồng tiền trong một nền kinh tế. Nhưng ở khía cạnh khác, nó giúp tăng cung ngoại tệ, giảm áp lực lạm phát hoặc làm chỗ dựa cho nền kinh tế khi đồng bản tệ quá suy yếu.
"Không bao giờ hạn chế triệt để tình trạng đôla hoá, mà cũng không nên làm điều đó. Đôla hoá không hẳn đã là xấu. Nhiều phân tích của các tổ chức quốc tế cũng khẳng định tình trạng đó không hẳn đã xấu. Các ngân hàng thương mại sẽ đối mặt với tình trạng rủi ro rất lớn nếu anh huy động ngoại tệ mà không cho vay được, nguy hiểm nhất là khi đồng đôla tăng giá trên thị trường thế giới", bà Tô Kim Ngọc trao đổi với VnExpress bên lề hội thảo. Theo bà, trong điều kiện hiện nay khi các phương tiện bảo hiểm rủi ro tỷ giá chưa phát triển ở Việt Nam, đôla hoá vẫn có lợi cho các ngân hàng thương mại.
Việc xác định tình trạng đôla hoá theo công thức FCD/M2 được đánh giá là khá chính xác ở những nước mà phần lớn giao dịch thanh toán đều thực hiện qua ngân hàng. Còn ở Việt Nam, nơi mà tỷ lệ sử dụng tiền mặt vẫn còn rất lớn, tỷ lệ FCD/M2 không phản ánh đầy đủ thực trạng đôla hoá trong toàn bộ nền kinh tế. Vấn đề càng nghiêm trọng hơn nếu hạn chế đôla hoá bằng cách kiềm chế lượng ngoại tệ gửi vào ngân hàng. Tâm lý thích dùng tiền mặt vẫn ăn sâu trong dân chúng Việt Nam, nếu hạn chế gửi ngoại tệ vào ngân hàng họ sẽ cất trữ tại nhà hoặc tạm thời chuyển qua gửi VND và sẵn sàng quay về cất trữ ngoại tệ bất cứ khi nào thuận lợi.
"Các con số liên quan tới tỷ lệ đôla hoá không nói lên điều gì cả. 24% rất dễ dàng tăng lên 30-40% bất cứ khi nào, nhất là khi tỷ lệ lạm phát của Việt Nam lên tới 9,5% như hiện nay. Nhưng nếu ép đưa xuống dưới 15% đồng thời đánh tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao với phần vượt thì càng nguy hiểm hơn. Các ngân hàng sẽ phải giảm lãi suất USD. Trong khi lãi suất USD trên thế giới đang tăng cao, làm như vậy khó huy động được ngoại tệ", bà Ngọc phân tích.
Trao đổi với VnExpress, Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Đồng Tiến cũng cho rằng, cần cân nhắc kỹ lưỡng khi áp dụng chính sách hạn chế đôla hoá, bởi nó có thể ảnh hưởng tới khả năng thu hút nguồn ngoại tệ. Theo ông, lượng tiền gửi ngoại tệ tăng phản ánh sự tin tưởng của người dân vào hệ thống ngân hàng, đồng thời giúp giảm bớt lượng ngoại tệ tiền mặt lưu thông bên ngoài. Hơn nữa, tỷ lệ FCD/M2 đạt trên 20% có vẻ cao hơn các nước trong khu vực nhưng vẫn đảm bảo tính ổn định cho hệ thống tiền tệ cũng như đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là kinh tế đối ngoại.
"Song, quan điểm của tôi là cần hạ thấp tỷ lệ này xuống và đảm bảo hạn chế việc sử dụng ngoại tệ trong thanh toán các giao dịch thuộc phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Lộ trình giảm như thế nào, ở mức độ bao nhiêu, cần có sự cân nhắc và trao đổi với cơ quan quản lý nhà nước cũng như cơ quan nghiên cứu trước khi trình chính phủ. Cần đánh giá toàn diện sao cho có lợi nhất, tạo ổn định cho hệ thống tài chính tiền tệ và khai thác mặt lợi của đôla hoá", ông Tiến nhấn mạnh.
Vụ phó Ngoại hối Phí Đăng Minh rất tự tin cho rằng bản đề án nâng cao tính chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam và từng bước khắc phục tình trạng đôla hoá đã giải quyết thoả đáng 3 câu hỏi: "Làm gì?", "Bao giờ làm?" và "Ai làm?". Tuy nhiên, theo Phó thống đốc Nguyễn Đồng Tiến, cần phải đặt thêm câu hỏi "Làm như vậy có được không?". Chính các ngân hàng thương mại và giới nghiên cứu đã tìm lời giải cho câu hỏi thứ 4 này ngay trong hội thảo. Và mục tiêu mà ban soạn thảo đặt ra là trình đề án lên Chính phủ ngay trong tháng 6 đang trở nên quá xa vời.
Song Linh
