![]() |
|
Bà Phạm Chi Lan. |
- Bà thấy nhìn nhận của xã hội về người giàu hiện nay thế nào?
- Thời bao cấp chúng ta được tuyên tuyền và giáo dục theo hướng trọng người nghèo hơn, khiến nhiều người giàu có mặc cảm và rất ngại xuất hiện. Tuy nhiên trong cơ chế thị trường ngày nay, quan niệm đã thay đổi, ngay nghị quyết của Đảng cũng nêu rõ khuyến khích toàn dân làm giàu cho chính mình và cho đất nước. Đất nước hội nhập, khoảng cách giàu nghèo lớn là tất yếu nhưng cũng phải nhìn nhận bản thân đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp, ông chủ các công ty lớn có đóng góp to lớn cho đất nước.
- Bà thấy ở VN mọi người đánh giá về chuẩn giàu như thế nào?
- Như thế nào gọi là giàu thì chưa bao giờ có chuẩn, mà chỉ có chuẩn nghèo lấy theo tiêu chí của Liên Hợp quốc dành cho các quốc gia đang phát triển. Hiện để tính khoảng cách giàu nghèo, ngành thống kê lấy 20% người có thu nhập cao nhất so với 20% người có thu nhập thấp nhất. Số lần tăng nhiều hơn thì người ta nói khoảng cách giàu nghèo tăng. Một trong những cơ sở để thống kê người có thu nhập cao có thể theo thuế thu nhập.
- Người xưa dựa vào những tiêu chí nào để đánh giá tài sản của những doanh nhân giàu có như Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Xuân Hà?
- Họ đều là những ông chủ nắm trong tay ngành kinh doanh lớn. Ở VN việc kê khai tài sản, thu nhập hiện chưa được quản lý chặt, mới có cổ đông lớn của những doanh nghiệp lên sàn tính ra được sơ bộ về giá trị cổ phiếu họ nắm còn nhiều lãnh đạo doanh nghiệp rất giàu, tài sản của họ có thể tính theo bất động sản, theo cổ phiếu hoặc nhiều dạng khác.
- Thị trường chứng khoán bùng nổ mang lại giá trị tài sản lớn cho cổ đông của các công ty niêm yết. Bà có cảm nhận gì về lớp người giàu có này?
- Phất lên nhờ chứng khoán là cách làm giàu được Nhà nước khuyến khích, hơn nữa đây lại là lãnh đạo các doanh nghiệp lớn. Họ không chỉ làm giàu cho bản thân mà còn góp phần đem lại lợi nhuận cho công ty, làm thay đổi cuộc sống của bao người. Cá nhân tôi cho rằng, ngoài thống kê những người giàu qua chứng khoán, có thể nêu nhiều tấm gương làm giàu ở những lĩnh vực khác bằng kiến thức, tài năng, chẳng hạn các nghệ sĩ hay cầu thủ. Thế giới vẫn công bố hợp đồng chuyển nhượng hay số tiền những người nổi tiếng kiếm được trong 1 tuần, 1 năm. Khi quan niệm về người giàu khác đi thì họ cũng không ngại kê khai thu nhập nữa.
- Có ý kiến cho rằng không nên công bố giá trị cổ phiếu của những cổ đông lớn tại các công ty niêm yết. Bà nghĩ sao?
- Công bố thông tin như vậy chẳng có gì sai, đó đều là những thông tin đã được công khai. Vấn đề là cách đưa thế nào để hướng xã hội có cái nhìn khuyến khích những người làm giàu chính đáng, tránh thái độ kỳ thị ghen tức.
VN đã thực hiện kê khai tài sản của quan chức, cá nhân tôi thấy cần công bố rộng rãi những con số này chứ không nên chỉ để một số người làm về nhân sự nắm được. Công khai là giúp người dân có khả năng giám sám xã hội, theo dõi phát sinh tài sản bất hợp lý. Chẳng hạn, tới đây bầu cử Quốc hội khi yêu cầu các ứng viên kê khai tài sản có thể đưa ra cho cử tri biết.
|
Nguyễn Minh Phong, Trưởng phòng phân tích kinh tế Viện nghiên cứu kinh tế Hà Nội: Xã hội đã có quan niệm khác về người giàu, những người làm giàu một cách hợp pháp. Cũng như các nước khác, những tỷ phú nổi lên nhờ chứng khoán chủ yếu là các doanh nhân lãnh đạo doanh nghiệp. Thông tin dựa vào các bản cáo bạch đã được công khai đến các nhà đầu tư vì thế đây là một cơ sở đáng tin cậy và hoàn toàn hợp pháp khi tổng hợp và đăng tải. Giáo sư trường đại học Hawaii tại Việt Nam Hà Tôn Vinh: Nhiều người Việt Nam đang sở hữu số lượng khổng lồ cổ phiếu giao dịch trên thị trường nên đã giàu lên rất nhanh. Tuy nhiên, phải xác định tính thanh khoản của tài sản là cổ phiếu thấp và có thể mang nhiều rủi ro. Kinh nghiệm tại nhiều nước phát triển cho thấy, vì lý do gì đó, chẳng hạn công ty có vấn đề với các cơ quan công quyền nên giảm tính hấp dẫn, chỉ cần một đêm, cổ phiếu trở thành giấy, tỷ phú cũng trắng tay. Cũng vì vậy nên có nhiều người giàu chỉ sau 1 đêm và ngược lại. Có nhiều cách bình chọn người giàu, nhưng thông thường các nước xếp hạng người nhiều tiền dựa trên các tiêu chí là tổng tài sản đang sở hữu (tài sản có thể nhìn thấy, sờ được và cổ phiếu), và tính thực của tài sản. Tài sản càng thực thì càng ổn định, bền vững. Do đó, chỉ có tài sản thể hiện trên báo cáo thuế, hoặc kiểm toán là chính xác, đầy đủ và ổn định nhất. |
Việt Phong - Phan Anh
