![]() |
|
Bà Jeaninne Gillingham nhớ lại thời thiếu nữ. |
Cơ hội gặp gỡ của Jeaninne Massey với Howard Gillingham, một thợ hàn sửa chữa xe tăng trong Sư đoàn số 2 (Mỹ), ngay sau D-Day đã thay đổi cuộc đời bà. Tuy nhiên, bà không phải là trường hợp duy nhất.
Ngay sau khi bước chân lên bãi biển Normandy, lính Mỹ bắt đầu "phải lòng" các cô gái địa phương. Và khoảng 6.000 người trong số đó về nước với các cô dâu Pháp. Một số câu chuyện tình yêu giữa 2 nền văn hoá khác nhau được ghi vào cuốn "Những chuyện tình của lính Mỹ" (Des Amours de GIs) của Hilary Kaiser, xuất bản đúng dịp kỷ niệm 60 năm chiến dịch Normandy. Nó làm sáng tỏ một khía cạnh trong lịch sử Thế Chiến II vốn chưa được tìm hiểu nhiều.
Bất chấp rào cản ngôn ngữ, khác biệt văn hoá và thậm chí không được cha mẹ chấp thuận, các đôi uyên ương Pháp - Mỹ đã vượt qua tất cả trở ngại, vì có chung niềm tin vào chiến thắng, vào ánh sáng tự do. Tuy nhiên, vài cuộc hôn nhân kết thúc trong ly hôn và xung khắc. Một cô gái người Paris hoạt bát phải hái bông trong trang trại nhà chồng ở Alabama và không thể chịu nổi. Một phụ nữ khác nhận ra rằng sau vài năm sinh sống ở Mỹ, bà và chồng "không hề có điểm chung".
Dù vậy, bất chấp các khó khăn, thường do nguồn gốc khác nhau, nhiều cuộc hôn nhân, được tạo điều kiện với Đạo luật Các cô dâu thời chiến năm 1945 (theo đó, phụ nữ được đi qua đại dương miễn phí), đã kéo dài trong hạnh phúc. Chẳng hạn, bà Gillingham đã chung sống với chồng gần 50 năm, cho tới khi Howard qua đời vào năm 1994. Bà khẳng định mối quan hệ vợ chồng càng được củng cố vì những điều mà bà không quen khi ở Oelwein, như tự xây nhà. "Tôi trộn vữa, tôi làm tất cả. Trước đây, tôi chưa từng đóng giường. Các bạn có thể thấy sức mạnh của tình yêu", Gillingham cười hóm hỉnh.
Jeaninne Gillingham chấp nhận đương đầu với thực tế. Jacqueline Decker, sống cách Utah Breach vài km, nơi ông chồng Ambrose hạ cánh năm 1944, cũng vậy. Tuy nhiên, thực tế khác xa với bà suy nghĩ, khi 2 người gặp lại nhau tại Paris một năm sau đó. "Khi 17-23 tuổi, các cô gái thì sắc sảo, chàng trai thì đẹp mã, thật quyền rũ", Decker nhớ lại. "Bên cạnh đó, chiến tranh vừa kết thúc, chúng tôi sống trong những thời khắc đặc biệt, mọi chuyện tồi tệ đã qua đi, cứ như phim vậy. Cuộc đời được phủ một màu hồng".
Những cô gái trẻ dám bỏ lại tất cả, theo chồng vì "thấy cơ hội có cuộc sống tốt đẹp hơn". Marcelle Boswell Rougeaux, kết hôn với một chàng trai lớn lên tại trang trại ở Alabama, nhớ lại: "Khi đó, tôi mới 18 tuổi. Tôi quá chán ghét chiến tranh và thiếu thốn. Tôi chán phải trông 3 em gái và một em trai. Nước Mỹ cho tôi một chân trời mới".
Trong tưởng tượng của các cô gái, Mỹ là vùng đất của cuộc sống phong lưu. Họ không nghĩ đến những thay đổi mới, đặc biệt là nếu chàng trai họ để mắt đến rất nghèo. Hầu hết phải sống chung với cha mẹ chồng, trong đó không phải ai cũng cởi mở và ân cần. Họ phải học một ngôn ngữ mới, các tập quán mới trong khi các ông chồng phải đi kiếm việc làm. Thích ứng với điều kiện mới không phải chuyện đơn giản.
Jeaninne Massey không mảy may nghĩ tới chuyện đó trong những tuần sau D-Day. Mỗi tối, bà lại tới thăm Howard Gillingham sau khi đã làm việc cả ngày ở quán cafe của cha mẹ, còn ông thì đã ở gần chiến tuyến để sửa xe tăng. "Chúng tôi cùng đến thăm các lính Mỹ trong những doanh trại, mang cho họ dâu, sữa và bơ. Họ thì tặng chúng tôi chocolate cùng những đồ dùng mà chúng tôi chưa thấy trong nhiều năm", bà Gillingham nhớ lại. "Mẹ tôi băn khoăn vì cô con gái chỉ thường gặp một lính Mỹ cao lớn. Nhưng cha tôi bình chân như vại vì nghĩ chúng chẳng hiểu nhau. Thực ra, mỗi khi đi, tôi luôn mang theo từ điển. Chúng tôi dùng ngôn ngữ cơ thể nữa".
Tối 25/7, bà lại đến nơi lính Mỹ đóng quân như thường lệ, nhưng không còn ai ở đó nữa. Một người mang tới cho bà bao thuốc lá với thông điệp ở đằng sau: "Bọn anh đã chuyển sang nhà thờ". "Lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng trong nhiều năm, chúng tôi hôn nhau. Hôm sau, lính Mỹ sẽ rời đi - đó là điều chắc chắn", bà kể.
Dù Howard có đi đâu, Jeaninne vẫn viết thư, kể cả khi không biết người yêu có nhận được hay không. Trong một bức thư, bà khẳng định viết tiếng Mỹ tốt, nhưng không biết nói. "Em đợi anh về dạy em. Hãy tin ở em nhé", lá thư có đoạn.
6 tháng sau, bà nhận được thiệp Giáng sinh từ Howard. Bà viết thư trả lời: "Mẹ em muốn anh học tiếng Pháp để nói chuyện được với anh. Anh yêu, có lẽ anh suy nghĩ về chuyện này nhiều lắm nhỉ".
Rồi suốt một tháng, Jeaninne không nhận được thư của Howard. "Em tự hỏi có phải anh tức giận với em không?", bà viết vào tháng 6/1945, khi Howard đang ở Đức.
Đột nhiên, ông tới thăm bà trong một ngày (vì được phép tới thăm anh trai bị thương đang điều trị trong bệnh viện ở Paris, Howard vòng qua Normandy). "Tôi còn không biết ông ấy có tóc không nữa", bà cười. "Tôi chưa bao giờ thấy ông ấy bỏ mũ ra cả".
Howard trở lại Mỹ, tìm được công việc sửa chữa máy nông nghiệp. Jeaninne tiếp tục viết thư cho người yêu. 18 tháng sau, Howard trở lại Pháp kết hôn với Jeaninne. Cuộc sống ở Mỹ hoàn toàn khác, cô dâu mới phải quen với những phong tục khác hẳn. Thay vì những chiếc mũ xinh xắn, những bộ váy kiểu cách, bà mặc quần jean khi đi làm. Tất nhiên, Jeaninne được chồng giúp đỡ để quen với cuộc sống mới.
Cặp vợ chồng này sống ở Mỹ 14 năm thì đưa các con về Normandy để quản lý quán cafe gia đình Massey. Howard chưa bao giờ nói được tiếng Pháp trôi chảy nhưng không ngại chuyện đó. Các khách hàng cũng vậy.
Những ngày này, cửa sổ quán cafe được phủ màu đỏ, trắng và xanh da trời, ảnh ông Howard Gillingham cũng được dán khắp nơi. "Tôi tự hào là người Pháp và người Mỹ. Tôi đã chiến đấu cho cả 2 nước", bà Gillingham tự hào.
Nguyễn Hạnh (theo CSM)
