Đoan Môn (cổng nam) là một trong những cổng chính dẫn vào Cấm thành, nơi có điện Kính Thiên và các cung điện khác của vua. Được xây dựng thời Lê sơ (thế kỷ 15) và được tu bổ vào thời Nguyễn (thế kỷ 19), đây là cổng có vị trí quan trọng trong các hoạt động mang tính nghi lễ của Hoàng thành. Công trình xây dựng bằng đá và gạch vồ, cấu trúc hình chữ U với 5 cửa vòm cuốn. Tổng diện tích xây dựng là 3.970 m2. Cửa giữa dành riêng cho nhà vua, cao 4 m, rộng 2,7 m. Hai bên có 4 cửa nhỏ, cao 3,8 m, rộng 2,5 m dùng để các quan, hoàng thân ra vào cung.
Hoàng thành Thăng Long là quần thể di tích gắn với lịch sử kinh thành Thăng Long và tỉnh thành Hà Nội, bắt đầu từ thời kỳ Bắc thuộc dưới ách đô hộ của nhà Tùy và nhà Đường (thế kỷ 7-9), xuyên suốt các triều đại: Lý, Trần, Lê, Mạc và Nguyễn (1010-1945). Năm 2010, nơi đây được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới.
Đoan Môn (cổng nam) là một trong những cổng chính dẫn vào Cấm thành, nơi có điện Kính Thiên và các cung điện khác của vua. Được xây dựng thời Lê sơ (thế kỷ 15) và được tu bổ vào thời Nguyễn (thế kỷ 19), đây là cổng có vị trí quan trọng trong các hoạt động mang tính nghi lễ của Hoàng thành. Công trình xây dựng bằng đá và gạch vồ, cấu trúc hình chữ U với 5 cửa vòm cuốn. Tổng diện tích xây dựng là 3.970 m2. Cửa giữa dành riêng cho nhà vua, cao 4 m, rộng 2,7 m. Hai bên có 4 cửa nhỏ, cao 3,8 m, rộng 2,5 m dùng để các quan, hoàng thân ra vào cung.
Hoàng thành Thăng Long là quần thể di tích gắn với lịch sử kinh thành Thăng Long và tỉnh thành Hà Nội, bắt đầu từ thời kỳ Bắc thuộc dưới ách đô hộ của nhà Tùy và nhà Đường (thế kỷ 7-9), xuyên suốt các triều đại: Lý, Trần, Lê, Mạc và Nguyễn (1010-1945). Năm 2010, nơi đây được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới.
Điện Kính Thiên là nơi cử hành các nghi lễ, đón tiếp sứ giả và thiết triều bàn những việc quốc gia đại sự. Theo Đại Việt Sử ký toàn thư, điện được xây năm 1428 đời vua Lê Thái Tổ và hoàn thiện vào đời vua Lê Thánh Tông. Điện nằm ở núi Nùng, trên nền cũ của cung Càn Nguyên - Thiên An thời Lý, Trần. Qua các bức ảnh do người Pháp chụp năm 1883-1886, ngôi điện có kiến trúc gỗ gồm 2 nếp hình chữ Nhị, kiểu chồng diêm 2 tầng 8 mái với các góc đao cong. Bờ nóc của hai nếp đều đắp nổi đôi rồng chầu mặt trời. Quanh điện có sân rộng được xây lan can bao 4 phía.
Mới đây, Hà Nội dự kiến chi 1.800 tỷ đồng để phục dựng điện Kính Thiên.
Điện Kính Thiên là nơi cử hành các nghi lễ, đón tiếp sứ giả và thiết triều bàn những việc quốc gia đại sự. Theo Đại Việt Sử ký toàn thư, điện được xây năm 1428 đời vua Lê Thái Tổ và hoàn thiện vào đời vua Lê Thánh Tông. Điện nằm ở núi Nùng, trên nền cũ của cung Càn Nguyên - Thiên An thời Lý, Trần. Qua các bức ảnh do người Pháp chụp năm 1883-1886, ngôi điện có kiến trúc gỗ gồm 2 nếp hình chữ Nhị, kiểu chồng diêm 2 tầng 8 mái với các góc đao cong. Bờ nóc của hai nếp đều đắp nổi đôi rồng chầu mặt trời. Quanh điện có sân rộng được xây lan can bao 4 phía.
Mới đây, Hà Nội dự kiến chi 1.800 tỷ đồng để phục dựng điện Kính Thiên.
Trước điện Kính Thiên có 10 bậc cấp bằng đá với lan can tạo hình rồng, chia thành ba lối lên.
Năm 1805, vua Gia Long cho xây dựng khu này làm Hành cung. Tên Thành cổ Hà Nội xuất hiện từ năm 1831, khi vua Minh Mạng thực hiện cuộc cải cách hành chính lớn, thành lập các tỉnh trên cả nước. Thời Pháp thuộc, khoảng năm 1886, điện bị phá hủy chỉ còn di tích bậc thềm và nền. Sau ngày 10/10/1954, khi bộ đội vào tiếp quản Thủ đô, khu vực này trở thành nơi làm việc của Bộ Quốc phòng.
Trước điện Kính Thiên có 10 bậc cấp bằng đá với lan can tạo hình rồng, chia thành ba lối lên.
Năm 1805, vua Gia Long cho xây dựng khu này làm Hành cung. Tên Thành cổ Hà Nội xuất hiện từ năm 1831, khi vua Minh Mạng thực hiện cuộc cải cách hành chính lớn, thành lập các tỉnh trên cả nước. Thời Pháp thuộc, khoảng năm 1886, điện bị phá hủy chỉ còn di tích bậc thềm và nền. Sau ngày 10/10/1954, khi bộ đội vào tiếp quản Thủ đô, khu vực này trở thành nơi làm việc của Bộ Quốc phòng.
Đôi rồng đá được dựng năm 1467, tuổi thọ đến nay đã 556 năm tuổi.
Rồng đá là một di sản kiến trúc nghệ thuật tuyệt tác, tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc thời Lê sơ. Được chạm trổ bằng đá xanh, rồng đá có đầu nhô cao, mắt tròn lồi, sừng dài có nhánh, bờm lượn ra sau. Thân rồng uốn lượn mềm mại thành nhiều vòng cung, nhỏ dần về phía nền điện, trên lưng có đường vây dài nhấp nhô như vân mây, tia lửa.
Đôi rồng đá được dựng năm 1467, tuổi thọ đến nay đã 556 năm tuổi.
Rồng đá là một di sản kiến trúc nghệ thuật tuyệt tác, tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc thời Lê sơ. Được chạm trổ bằng đá xanh, rồng đá có đầu nhô cao, mắt tròn lồi, sừng dài có nhánh, bờm lượn ra sau. Thân rồng uốn lượn mềm mại thành nhiều vòng cung, nhỏ dần về phía nền điện, trên lưng có đường vây dài nhấp nhô như vân mây, tia lửa.
Cổng Hành cung phía đông thời Nguyễn. Theo Đại Nam nhất thống chí, năm 1805, khi xây thành Hà Nội theo kiểu Vauban, nhà Nguyễn đã xây dựng tường bao từ cửa Đoan Môn quanh nội điện làm Hành cung để vua làm việc và nghỉ ngơi mỗi khi Bắc tuần.
Sau đó, nơi đây còn là lối vào Tòa nhà sở chỉ huy pháo binh quân đội Pháp. Hiện nay, trong khu thành cổ còn 8 cổng cùng với tường bao Hành cung bằng gạch vồ, xung quanh trung tâm thành Hà Nội thời Nguyễn.
Cổng Hành cung phía đông thời Nguyễn. Theo Đại Nam nhất thống chí, năm 1805, khi xây thành Hà Nội theo kiểu Vauban, nhà Nguyễn đã xây dựng tường bao từ cửa Đoan Môn quanh nội điện làm Hành cung để vua làm việc và nghỉ ngơi mỗi khi Bắc tuần.
Sau đó, nơi đây còn là lối vào Tòa nhà sở chỉ huy pháo binh quân đội Pháp. Hiện nay, trong khu thành cổ còn 8 cổng cùng với tường bao Hành cung bằng gạch vồ, xung quanh trung tâm thành Hà Nội thời Nguyễn.
Cổng Hành cung trong khu di tích thành cổ. Nơi đây xưa kia thường có quân lính canh gác. Mỗi cổng có thiết kế vững chãi và cầu kỳ, tôn lên dáng vẻ tráng lệ của cung điện.
Cổng Hành cung trong khu di tích thành cổ. Nơi đây xưa kia thường có quân lính canh gác. Mỗi cổng có thiết kế vững chãi và cầu kỳ, tôn lên dáng vẻ tráng lệ của cung điện.
Hậu Lâu rộng gần 2.400 m2, xưa gọi là Tĩnh Bắc Lâu, được xây dựng sau đời Hậu Lê, là nơi ở và sinh hoạt của hoàng hậu và công chúa. Thời Nguyễn, Hậu Lâu làm nơi ở của các cung tần, mỹ nữ đi theo nhà vua mỗi chuyến công du.
Cuối thế kỷ 19, Hậu Lâu bị hư hỏng nặng, sau người Pháp đã cải tạo xây dựng lại như hiện nay.
Hậu Lâu rộng gần 2.400 m2, xưa gọi là Tĩnh Bắc Lâu, được xây dựng sau đời Hậu Lê, là nơi ở và sinh hoạt của hoàng hậu và công chúa. Thời Nguyễn, Hậu Lâu làm nơi ở của các cung tần, mỹ nữ đi theo nhà vua mỗi chuyến công du.
Cuối thế kỷ 19, Hậu Lâu bị hư hỏng nặng, sau người Pháp đã cải tạo xây dựng lại như hiện nay.
Kỳ đài hay còn gọi là Cột cờ Hà Nội, nay nằm trên đường Điện Biên Phủ, quận Ba Đình. Công trình được xây xong năm 1812, dưới thời vua Gia Long trên phần đất phía nam của Hoàng thành Thăng Long. Cột cờ gồm ba tầng đế và một thân cột. Các tầng đế hình chóp vuông cụt, nhỏ dần, chồng lên nhau, xung quanh ốp gạch. Tầng một dài 42,5 m, cao 3,1 m, có hai thang gạch; tầng hai dài 27 m, cao 3,7 m, có 4 cửa; tầng ba, dài 12,8 m, cao 5,1 m. Trải qua hơn 200 năm, đây là công trình còn nguyên vẹn và hoành tráng nhất trong quần thể di tích Hoàng thành Thăng Long.
Ngày 10/10/1954, lần đầu tiên lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên đỉnh Cột cờ Hà Nội. Năm 1989, công trình được công nhận là Di tích quốc gia.
Kỳ đài hay còn gọi là Cột cờ Hà Nội, nay nằm trên đường Điện Biên Phủ, quận Ba Đình. Công trình được xây xong năm 1812, dưới thời vua Gia Long trên phần đất phía nam của Hoàng thành Thăng Long. Cột cờ gồm ba tầng đế và một thân cột. Các tầng đế hình chóp vuông cụt, nhỏ dần, chồng lên nhau, xung quanh ốp gạch. Tầng một dài 42,5 m, cao 3,1 m, có hai thang gạch; tầng hai dài 27 m, cao 3,7 m, có 4 cửa; tầng ba, dài 12,8 m, cao 5,1 m. Trải qua hơn 200 năm, đây là công trình còn nguyên vẹn và hoành tráng nhất trong quần thể di tích Hoàng thành Thăng Long.
Ngày 10/10/1954, lần đầu tiên lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên đỉnh Cột cờ Hà Nội. Năm 1989, công trình được công nhận là Di tích quốc gia.
Cửa Bắc hay Chính Bắc Môn nằm trên phố Phan Đình Phùng, được nhà Nguyễn xây năm 1805, là cổng thành duy nhất còn lại của Thành Hà Nội thời Nguyễn.
Trong bức ảnh chụp khoảng năm 1875-1879, trước Bắc Môn là chiếc cầu gạch bắc qua con hào rộng chừng 20 m bao quanh thành. Ngày nay, khu vực này là bãi cỏ, vỉa hè và một phần lòng đường Phan Đình Phùng.
Cửa Bắc hay Chính Bắc Môn nằm trên phố Phan Đình Phùng, được nhà Nguyễn xây năm 1805, là cổng thành duy nhất còn lại của Thành Hà Nội thời Nguyễn.
Trong bức ảnh chụp khoảng năm 1875-1879, trước Bắc Môn là chiếc cầu gạch bắc qua con hào rộng chừng 20 m bao quanh thành. Ngày nay, khu vực này là bãi cỏ, vỉa hè và một phần lòng đường Phan Đình Phùng.
Toà nhà hai tầng do người Pháp xây năm 1897, sau đó làm trụ sở của Cục Tác chiến (Bộ Quốc Phòng) một thời gian. Công trình nằm trên dấu tích sân Đan Trì (hay còn gọi sân chầu, sân Đại Triều, sân điện Kính Thiên, vào thời Lê Trung Hưng là nơi diễn ra các nghi lễ quốc gia quan trọng nhất của đất nước) và Ngự Đạo (đường cho vua đi). Nhìn từ cổng Đoan Môn, tòa nhà đang che khuất tầm nhìn chính vào điện Kính Thiên.
Biên bản làm việc giữa Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long Hà Nội và trưởng đại diện Văn phòng UNESCO Hà Nội ngày 2/11/2022, cho rằng tòa nhà này không biểu trưng cho quyền lực Đông Dương thuộc Pháp. Nhiều nhà khoa học đưa ra ý kiến cần hạ giải hoặc di dời tòa nhà này để đảm bảo mục tiêu làm liền mạch trục trung tâm từ Đoan Môn tới điện Kính Thiên.
Toà nhà hai tầng do người Pháp xây năm 1897, sau đó làm trụ sở của Cục Tác chiến (Bộ Quốc Phòng) một thời gian. Công trình nằm trên dấu tích sân Đan Trì (hay còn gọi sân chầu, sân Đại Triều, sân điện Kính Thiên, vào thời Lê Trung Hưng là nơi diễn ra các nghi lễ quốc gia quan trọng nhất của đất nước) và Ngự Đạo (đường cho vua đi). Nhìn từ cổng Đoan Môn, tòa nhà đang che khuất tầm nhìn chính vào điện Kính Thiên.
Biên bản làm việc giữa Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long Hà Nội và trưởng đại diện Văn phòng UNESCO Hà Nội ngày 2/11/2022, cho rằng tòa nhà này không biểu trưng cho quyền lực Đông Dương thuộc Pháp. Nhiều nhà khoa học đưa ra ý kiến cần hạ giải hoặc di dời tòa nhà này để đảm bảo mục tiêu làm liền mạch trục trung tâm từ Đoan Môn tới điện Kính Thiên.
Khu di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu nằm cách nền điện Kính Thiên khoảng 100 m về phía tây. Từ năm 2002, cuộc khai quật khảo cổ học lớn nhất nước đã được thực hiện. Khu khai quật khảo cổ học được Viện khảo cổ học phân làm 4 khu. Những khám phá quan trọng của khảo cổ học dưới lòng đất đã làm phát lộ một quần thể di tích kiến trúc phong phú, đa dạng cùng hàng triệu di vật thuộc nhiều thời kỳ nằm chồng xếp, đan xen nhau, bắt đầu từ thời Đại La (thế kỷ 7- 9) đến thời Nguyễn (1802- 1945).
Dự kiến, TP Hà Nội sẽ chi 798 tỷ đồng thực hiện dự án bảo tồn khu vực khảo cổ học số 18 phố Hoàng Diệu.
Khu di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu nằm cách nền điện Kính Thiên khoảng 100 m về phía tây. Từ năm 2002, cuộc khai quật khảo cổ học lớn nhất nước đã được thực hiện. Khu khai quật khảo cổ học được Viện khảo cổ học phân làm 4 khu. Những khám phá quan trọng của khảo cổ học dưới lòng đất đã làm phát lộ một quần thể di tích kiến trúc phong phú, đa dạng cùng hàng triệu di vật thuộc nhiều thời kỳ nằm chồng xếp, đan xen nhau, bắt đầu từ thời Đại La (thế kỷ 7- 9) đến thời Nguyễn (1802- 1945).
Dự kiến, TP Hà Nội sẽ chi 798 tỷ đồng thực hiện dự án bảo tồn khu vực khảo cổ học số 18 phố Hoàng Diệu.
Ngọc Thành (Ảnh tư liệu)