
TS. Võ Trí Thành, Trưởng ban Nghiên cứu hội nhập kinh tế quốc tế (Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương). Ảnh: N.C.
- Đến nay cơ bản các biện pháp kích cầu của Việt Nam đã được công bố với các chính sách tiền tệ và tài khóa. Theo ông, cần phải làm tiếp những việc gì?- Kích cầu là sự hỗ trợ cần thiết trong bối cảnh hiện nay, trước nguy cơ lớn về suy giảm kinh tế. Sự hỗ trợ sẽ làm giảm phần nào những khó khăn của nền kinh tế. Suy thoái kinh tế thế giới bắt nguồn từ việc tín dụng tại các nền kinh tế không hồi phục được, các ngân hàng không cho vay. Vì thế, hỗ trợ về lãi suất để các ngân hàng cung cấp tín dụng cho doanh nghiệp là ý tưởng tốt.
Với kích cầu, quan trọng nhất là biện pháp vĩ mô, với các chính sách tiền tệ và tài khóa, Việt Nam đã và sẽ làm. Nhưng cũng cần kết hợp với các biện pháp vi mô, như xem xét các nhóm xã hội khác nhau và các loại hình doanh nghiệp, khu vực kinh tế. Điều này là có ý nghĩa ở Việt Nam do thị trường chưa hoàn hảo.
- Một số ngân hàng thương mại chưa nắm rõ là ngoài 13 nhóm không hưởng hỗ trợ lãi suất, các nhóm khác nên được cho vay như thế nào. Họ cũng lo ngại về khả năng đảo nợ, ông nghĩ sao?
- Họ lo lắng về việc đảo nợ thì chính họ cần xem xét những ngành nghề nào cần ưu tiên về lãi suất, như doanh nghiệp có hoạt động sản xuất và xuất khẩu thực. Tất nhiên còn nhiều điều cần làm, nhất là về mặt kỹ thuật, cách thực thi và giám sát. Những vấn đề như ai chủ trì, ai giám sát cũng cần được làm rõ.
Trong một thời gian ngắn, Việt Nam phải đưa ra kế hoạch kích cầu một cách cấp bách, nên không thể đòi hỏi mọi bước đi đều hoàn hảo. Vấn đề hiện nay là việc thực hiện làm sao cho hiệu quả, có hiệu lực và phải liên tục giám sát, bám theo tình hình thực tế. Tôi cho rằng, các biện pháp kích cầu thu được 80% hiệu quả là tốt rồi.
- Ông nhận định thế nào về tác động của kế hoạch kích cầu "cấp bách" này đối với nền kinh tế?
- Tôi cho rằng nên xác định, kích cầu là nhằm đến tăng trưởng, công ăn việc làm cho người lao động, song phải tính cả đến tác động của kích cầu đến kinh tế vĩ mô. Cần xem xét Việt Nam thực hiện kích cầu trong bối cảnh chung như thế nào và tình hình riêng của Việt Nam ra sao, như lạm phát, cán cân thanh toán quốc tế, nhập siêu, thâm hụt ngân sách... Thực tế chúng ta chưa có những nghiên cứu kỹ lưỡng về vấn đề này. Còn phải nhìn xa hơn, như 1-2 năm nữa, tác động của những biện pháp kích cầu sẽ như thế nào. Tại Diễn đàn kinh tế thế giới tại Davos vừa qua, người ta không chỉ bàn đến khủng hoảng, mà cũng rất chú trọng đến các vấn đề hậu khủng hoảng.
Kích cầu như tại các nền kinh tế lớn Mỹ, châu Âu có bản chất là cứu thị trường tài chính. Mà các biện pháp cứu thị trường tài chính có thể sẽ mâu thuẫn với cải cách cho phát triển trung và dài hạn.
- Các chính sách tiền tệ và tài khóa được áp dụng trong trọn năm 2009, hiện đã là đầu tháng 2. Liệu có nhiều khả năng các biện pháp không kịp phát huy tác dụng trong quý I?
- Khi các chính sách mới được áp dụng, độ trễ là khó tránh khỏi. Với các biện pháp này, độ trễ có thể là 3 tháng. Theo những dự báo lạc quan nhất, đến quý III kinh tế thế giới có khả năng phục hồi, và như vậy cũng biện pháp kích cầu cũng phát huy tác dụng cùng thời điểm. Nhưng những dự báo cho năm nay và năm sau đều mang tính bất định và phải điều chỉnh việc kích cầu theo tình hình.
- Có ý kiến cho rằng chính sách tiền tệ đang gánh vác nhiều trọng trách hơn chính sách tài khóa trong việc ngăn chặn suy giảm kinh tế. Ông nghĩ sao?
- Việc áp dụng các chính sách tài khóa cũng liên quan nhiều đến ổn định kinh tế vĩ mô, nên cần xem xét kỹ.
- Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội dự báo khoảng 150.000 người mất việc làm trong năm 2009. Theo ông, làm sao để sự hỗ trợ của Chính phủ đến đúng "địa chỉ" và tạo ra việc làm, thay vì lọt sang các lĩnh vực đầu tư khác?
- Các quy định đã có, nhưng cần được làm rõ hơn để có thể triển khai tốt. Tôi lấy ví dụ, ý tưởng về hỗ trợ lãi suất rất rõ ràng là hướng đến doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa, bởi đó là các doanh nghiệp có thể giữ và tạo thêm lao động. Cần có cái nhìn tổng thể và hiệu quả đồng vốn trong tạo lao động, chứ nếu nói chung chung về tổng số lao động, thì có khi chính các tập đoàn lớn là những đơn vị sử dụng nhiều lao động.
Ngọc Châu