Điều khiến tôi bất ngờ không phải khu mua sắm hay giải trí, mà là tòa nhà nổi bật nhất gần trung tâm: thư viện cộng đồng.
Tôi được làm thẻ miễn phí và mượn sách cả tháng không mất tiền, dù mới đến Mỹ một tuần và chưa trở thành công dân. Họ không coi thư viện là phần "phụ trợ" cho giáo dục. Họ coi nó là dịch vụ công hàng ngày, dành cho mọi người
Thư viện đó không chỉ là kho sách. Nó chia khu theo lứa tuổi, có góc dành cho trẻ từ một tuổi với thảm ngồi, thú bông, sách tranh, đồ chơi xếp hình. Có cả sách nuôi dạy con đặt ở vị trí dễ thấy để bố mẹ đọc trong lúc chơi cùng trẻ. Thư viện, theo cách đó, nuôi dưỡng thói quen đọc từ rất sớm, và biến việc đọc sách thành một phần đời sống.
Nếu một thị trấn nhỏ vẫn coi thư viện là công trình thiết yếu, thì vì sao nhiều xã, phường của chúng ta lại thiếu không gian tương tự, để ai cũng vào được và quay lại thường xuyên.
Câu chuyện thư viện ở Mỹ gắn với một chi tiết lịch sử nổi tiếng. Hơn 100 năm trước, tỷ phú Andrew Carnegie đã tài trợ xây dựng hàng nghìn thư viện cộng đồng. Lý do cốt lõi rất đơn giản - miễn phí giúp người nghèo tiếp cận tri thức và tự nâng cao đời sống.
Việt Nam thay vì chờ tỷ phú, có thể tái sử dụng tài sản công để tạo ra giá trị mới.
Sau sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính, việc xuất hiện trụ sở dôi dư là câu chuyện đã được nêu công khai. Nếu không có phương án hợp lý, những công trình này dễ rơi vào tình trạng đóng cửa, xuống cấp, lãng phí, thậm chí gây thêm chi phí bảo trì và trông coi.
Thay vào đó, chúng có thể được chuyển đổi thành thư viện cộng đồng. Đây là một thiết chế tưởng mềm, nhưng tác động dài hạn và bền vững.
Mặt bằng, vị trí, phòng ốc, điện nước cơ bản đã có. Thứ còn thiếu là một thiết kế công năng đúng và một mô hình vận hành hiệu quả. Nếu chỉ đổi biển "UBND" thành "Thư viện", xếp vài tủ sách, mở cửa thất thường, không có hoạt động, kết quả sẽ là một kho sách phủ bụi. Muốn thư viện cộng đồng "sống" - nơi người dân có thói quen ghé qua, cần coi đây là dịch vụ công kiểu mới, với vài lớp chức năng cốt lõi.
Trước hết là không gian cho trẻ em và gia đình. Một góc đọc thiếu nhi có thảm ngồi, sách tranh, đồ chơi giáo dục, giờ kể chuyện cuối tuần. Khi trẻ em có lý do để đến, phụ huynh cũng có lý do để ở lại.
Tiếp theo là không gian học tập cho học sinh. Bàn học, ánh sáng tốt, wi-fi, tài liệu tham khảo, chỗ học nhóm nhỏ. Với nơi có điều kiện hơn, có thể bổ sung góc STEM đơn giản để kích thích tò mò và tinh thần tự học.
Một lớp nữa thường bị bỏ quên là nhóm tuổi teen. Nhiều em không còn hợp góc thiếu nhi, nhưng cũng chưa có thói quen đọc sách dài. Một góc phù hợp với truyện tranh, tạp chí, sách kỹ năng, sách hướng nghiệp sẽ giữ các em ở lại.
Sau cùng là không gian cho người lớn và sinh hoạt cộng đồng. Đây là phần khiến thư viện trở thành "điểm chạm" đúng nghĩa. Các lớp kỹ năng số, hướng nghiệp, ngoại ngữ giao tiếp, tài chính cá nhân, pháp luật phổ thông, cùng các câu lạc bộ đọc sách, tọa đàm, workshop sẽ tạo nhịp sống cho thư viện.
Nếu trụ sở cũ có sân rộng, có thể tính đến một vài hạng mục hỗ trợ sinh hoạt như góc vui chơi đơn giản cho trẻ hoặc dụng cụ tập luyện ngoài trời. Nhưng chỉ nên làm ở mức hỗ trợ và không lấn át lõi thư viện.
Vậy làm thế nào để việc triển khai không gặp nhiều trở ngại về chi phí?
Tôi cho rằng có thể bắt đầu theo nguyên tắc chuẩn tối thiểu, triển khai nhanh, mở rộng dần.
Trước hết, chọn thí điểm. Mỗi xã/phường chọn một đến hai trụ sở cũ ở vị trí thuận lợi, ưu tiên nơi có trường học, khu dân cư tập trung và giao thông thuận tiện.
Tiếp theo là sửa chữa theo gói. Sơn sửa, cải thiện ánh sáng, nhà vệ sinh, bàn ghế, biển hiệu, mạng Internet. Đây là khoản chi nhỏ hơn rất nhiều so với xây mới, nhưng tạo khác biệt lớn về trải nghiệm.
Quan trọng nhất là vận hành theo mạng lưới. Thư viện cấp tỉnh làm "đầu não" phụ trách chuyên môn, phân loại, tập huấn, và luân chuyển sách. Thư viện xã, phường là điểm phục vụ cuối. Nhờ luân chuyển, mỗi điểm nhỏ vẫn có thể thường xuyên "làm mới đầu sách" để người đọc quay lại.
Về nhân sự, có thể dùng mô hình lai. Một cán bộ xã/phường kiêm nhiệm làm đầu mối, kết hợp cộng tác viên là giáo viên nghỉ hưu, đoàn thanh niên, sinh viên, học sinh tình nguyện. Điều cần là tập huấn nghiệp vụ tối thiểu và một quy chế vận hành rõ ràng. Mở cửa được, ghi nhận lượt mượn trả được, tổ chức được vài hoạt động đều đặn mỗi tháng, là thư viện đã có nhịp sống. Điều quan trọng là giờ mở cửa phải ổn định và được công bố công khai.
Khi mọi việc vào quy củ, bước tiếp theo là chuẩn hóa bằng phần mềm thư viện. Phần mềm giúp biên mục, gắn mã vạch, quản lý mượn trả theo tài khoản, nhắc quá hạn và thống kê nhu cầu đọc. Nếu vận hành theo mạng lưới, phần mềm còn hỗ trợ liên thông để luân chuyển sách giữa các điểm, theo dõi tồn kho và minh bạch việc tiếp nhận sách tặng. Dữ liệu là cơ sở để thư viện chứng minh hiệu quả và duy trì nguồn lực
Về sách, không nhất thiết phải mua nhiều ngay từ đầu. Một thư viện nhỏ nhưng sách đúng nhu cầu hiệu quả hơn núi sách không ai đọc. Có thể huy động đóng góp từ cá nhân và doanh nghiệp, nhưng phải đi kèm cơ chế kiểm kê, minh bạch và tiêu chí lựa chọn đầu sách để tránh biến tặng sách thành "đổ sách". Sách tặng cũng cần tiêu chí, tránh biến thiện ý thành gánh nặng lưu kho.
Điều người ta hay lo là ai sẽ vận hành và tiền duy trì lấy từ đâu. Nhưng thư viện cộng đồng không nhất thiết phải bắt đầu bằng mô hình lớn. Chỉ cần giờ mở cửa ổn định, tối thiểu vài buổi tối trong tuần và sáng cuối tuần; có người chịu trách nhiệm mượn trả; có một lịch hoạt động đều đặn; là đã tạo được thói quen sử dụng. Kinh phí duy trì có thể kết hợp ngân sách cơ bản với xã hội hóa có kiểm soát, miễn là minh bạch và đo được hiệu quả. Rủi ro lớn nhất không phải thiếu tiền, mà là làm theo phong trào để rồi "treo biển" và đóng cửa.
Để tránh hình thức, mỗi điểm thư viện nên có vài chỉ số tối thiểu để theo dõi. Ví dụ số thẻ bạn đọc, lượt mượn theo tuần, số buổi hoạt động mỗi tháng, khung giờ mở cửa thực tế, và tỷ lệ sách luân chuyển. Khi có số liệu, việc xin ngân sách, kêu gọi tài trợ, hay mở rộng mô hình sẽ dựa trên hiệu quả thật thay vì cảm tính.
Một trụ sở xã, phường cũ hoàn toàn có thể trở thành điểm hẹn tri thức cho cả cộng đồng, nơi trẻ em tập yêu sách, thanh thiếu niên tìm thấy không gian phù hợp, người lớn học kỹ năng mới, người già có chỗ đọc và trò chuyện. Trong bối cảnh chúng ta đang mở rộng "miễn phí" cho giáo dục và hướng tới phúc lợi y tế phổ quát hơn, sẽ rất hợp lý nếu coi thư viện cộng đồng là mảnh ghép tiếp theo của một quốc gia đầu tư vào con người.
Nguyễn Nghĩa Tài