Khi Jim O’Neill suy ngẫm về đồng đôla Mỹ, ông bỗng trở nên hoài nghi. Người phụ trách kinh tế của Ngân hàng đầu tư Goldman Sachs (London) cho rằng trong thời gian tới, đồng đôla sẽ mất giá một cách rõ ràng và đứng sau euro. Tỷ giá 1,20 đôla/1 euro? Hoặc 1,30 hay thậm chí 1,40. Tất cả đều có thể. Michael Klawitter, chuyên gia ngoại tệ của ngân hàng WestLB (London), cũng nhìn nhận vấn đề này như vậy. Sự tăng giá của euro dẫn tới sự giảm giá của đôla, và không loại trừ khả năng tỷ giá sẽ là 1,40.
Đôla, loại tiền tệ từng được ví như con thuyền an toàn để vượt qua các cơn khủng hoảng, đang giảm giá nhanh chóng. Trong 12 tháng qua, tỷ giá của đồng tiền này giảm gần 20% - một sự thay đổi đầy bi kịch đối với một loại tiền tệ cơ bản không biến động mạnh mẽ như cổ phiếu. Chính vì lẽ đó, các nhà đầu tư, quỹ tiền tệ và nhà băng giờ đây đã bắt đầu thay đổi tư duy. Ngay cả các ngân hàng trung ương vốn nổi tiếng là thận trọng cũng đã bắt đầu chuyển đổi nguồn dự trữ ngoại tệ của mình sang euro, ví dụ như ở Trung Quốc, Nga, Đài Loan và Canada. Tại các thị trường chứng khoán, sự hoài nghi đối với siêu cường thế giới đang tăng lên. Đây không phải là sự hoài nghi về sức mạnh quân sự mà là kinh tế. Người ta lo ngại rằng nền kinh tế Mỹ không còn vững mạnh sẽ sụp đổ đột ngột. Nobert Walter, người phụ trách kinh tế của Ngân hàng Đức, đặt câu hỏi: “Tình hình yên ổn còn có thể kéo dài được bao lâu nữa? Phải chăng sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán, chiếc bong bóng đôla cũng sẽ nổ tung?”.
Vì sao lại như vậy? Vì phần lớn sự thịnh vượng của Mỹ được tài trợ bằng những khoản vay mượn. Nó dựa trên “sự thâm hụt kép”, tức là dựa trên một ngân sách nợ chồng chất và một bản tổng kết thành tích kinh tế với mức thâm hụt cao, như bình luận của Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu Wim Duisenberg. Ngày này qua ngày khác, các nhà đầu tư khắp thế giới đưa bạc tỷ vào Mỹ, mua cổ phiếu và đẩy chỉ số Dow Jones lên cao. Họ đầu tư vào các công ty và cho Mỹ vay tiền. Nhu cầu về đôla Mỹ tăng nhanh, tỷ giá của tờ bạc xanh này cũng vậy. Chỉ trong một thời gian ngắn, Tổng thống Mỹ Bush đã biến những khoản bội thu ngân sách được kế thừa từ người tiền nhiệm cách đây 2 năm trở thành những khoản thâm hụt khổng lồ. Riêng trong năm nay, Bush đã vay 380 tỷ USD để tài trợ cho chính sách cắt giảm thuế và cho cuộc chiến Iraq. Nếu căn cứ vào các tiêu chí của Hiệp ước Maastricht thì khoản tiền này bằng 4% tổng sản phẩm xã hội của Mỹ và cao hơn mức thâm hụt của Đức. Ngay cả “các con hổ” phương Đông cũng không có mức thâm hụt cao như vậy trong bảng tổng kết thành tích kinh tế của họ. Vì thế, nỗi lo ngại của chính giới và các nhà kinh tế châu Âu ngày càng tăng lên. Bộ trưởng Tài chính Đức Hans Eichel cảnh báo: “Đó không phải là một chính sách ổn định”. Còn nhà kinh tế O’Neill thì nhấn mạnh: “Ông Bush đang tìm cách bác bỏ những lý thuyết kinh tế và lịch sử kinh tế. Nhưng ông ta sẽ không thành công”. Tuy nhiên, đối với Alan Greenspan, được mệnh danh là “một nhà ảo thuật của các thị trường”, lòng tin vào đồng đôla Mỹ dường như vô hạn.
Ở bên ngoài nước Mỹ, đồng đôla cũng được coi là loại tiền tệ số 1. Khắp địa cầu, từ Hong Kong cho tới Nam Mỹ, các chính phủ đều ràng buộc đồng nội tệ của mình với đôla Mỹ, với hy vọng có thể được hưởng lợi nhờ sự thịnh vượng của Mỹ. Cựu tổng thống Argentina Carlos Menem từng có ý định xoá bỏ hoàn toàn nội tệ để thay thế bằng đôla Mỹ. Mãi cho tới khi “các con hổ” ở Viễn Đông suy sụp, người Brazil và Argentina mới tháo dần những mối dây liên kết với đôla Mỹ, khi sức ép đối với các nền kinh tế quốc dân từ lâu đã không còn năng động của họ trở nên quá lớn.
Đồng thời, euro, loại tiền bị nhạo báng là nhân tạo của “châu Âu cũ”, đã trở thành đồng tiền thứ hai có tầm cỡ thế giới và đang dần lớn mạnh. Sau sự khởi đầu yếu ớt và mất giá nhất thời là 30%, giờ đây giá trị của euro đang ngày càng tăng. Trước động thái này, không chỉ các quỹ tiền tệ và nhà đầu tư lớn, mà cả các ngân hàng trung ương cũng tính toán kỹ càng về việc họ sẽ đầu tư vào đâu và như thế nào. Phó chủ tịch Ngân hàng Trung ương Nga Oleg Vyungin thận trọng: “Hiện lãi suất của đôla rất thấp, những loại tiền tệ khác có lãi suất cao hơn. Vì thế, kho ngoại tệ của Nga sẽ được đa dạng hoá. Nói cách khác, Matxcơva sẽ tăng lượng euro trong các nguồn dự trữ ngoại tệ của mình từ dưới 10% lên hơn 20%”. Còn Trung Quốc, ngay từ năm 2001, ban lãnh đạo nước này đã ám chỉ rằng sẽ dự trữ thêm euro. Một số nước và vùng lãnh thổ khác cũng có động thái tương tự. Đài Loan tăng lượng euro dự trữ từ 20 lên 35%. Singapore có 1/3 ngoại tệ dự trữ là euro.
Một nghiên cứu mới đây của Ngân hàng đầu tư Goldman Sachs cho thấy, tỷ trọng giữa hai loại tiền tệ này đã thay đổi như thế nào. Đầu năm 1999, lượng đôla của các ngân hàng trung ương lớn vẫn còn nhiều gấp 5,8 lần so với euro. Ba năm sau, con số này chỉ còn là 4,6. Nhiều nhà đầu tư tin rằng việc tỷ giá euro tăng lên thời gian gần đây “sẽ còn gây ra những biến động phụ theo xu hướng đó”.
Điều đáng chú ý là chính Saddam Hussein là một trong những người đầu tiên đặt lòng tin vào đồng euro. Ngay mùa thu năm 2000, Baghdad tuyên bố Iraq ưu tiên đơn vị tiền tệ của châu Âu, và không dùng đồng tiền của “kẻ thù” nữa. Kể từ đó, lượng dầu thô xuất khẩu của Iraq trong chương trình “Đổi dầu lấy lương thực” không còn được thanh toán bằng đôla Mỹ, mà bằng euro - một điều bất bình thường trên thị trường dầu thô. Thời gian qua, Iran cũng tính tới khả năng cho các khách hàng của mình thanh toán bằng euro. Khi Washington liệt Iran vào “trục ma quỷ”, Tehran đã phản ứng bằng việc chuyển đổi một nửa lượng ngoại tệ dự trữ 7 tỷ USD sang euro.
Trên thực tế, nước Mỹ có thể bị tổn thương, vì sự thịnh vượng của quốc gia này dựa vào việc nhiều người trên thế giới mua đôla. Chỉ qua đó người ta mới có thể bù lại khoản thâm hụt trong bản tổng kết thành tích kinh tế của Mỹ. Chừng nào dầu lửa còn được mua bán bằng đôla Mỹ - và chỉ bằng đồng đôla - thì nhu cầu về loại tiền tệ này còn rất cao. Vì lẽ đó, đã xuất hiện các cuộc tranh luận về mưu đồ của Mỹ. Chẳng hạn như nhà sử học William Clark của Mỹ cho rằng lý do thực sự khiến Mỹ tấn công Iraq không phải là nỗi lo ngại về vũ khí huỷ diệt, cũng không phải là tham vọng chế ngự nguồn dầu lửa của Iraq mà là thiện cảm của Saddam dành cho euro. Tuy Clark không đưa ra những bằng chứng thực sự để biện minh, nhưng luận điểm này cũng gây chú ý cho nhiều người. Trên thực tế, xuất khẩu dầu lửa của Iraq chỉ có một ảnh hưởng không đáng kể đối với tỷ giá đôla Mỹ. Nhưng tình hình sẽ thay đổi nếu tất cả các nước OPEC không chấp nhận thanh toán bằng đôla nữa, mà thay vào đó là euro.
Điều nguy hiểm đối với nền kinh tế Mỹ, và qua đó là đồng đôla hiện nay, là tâm lý bất ổn của các nhà đầu tư, trước hết là ở Viễn Đông. Các nhà kinh tế đặt câu hỏi: Điều gì sẽ xảy ra nếu như các nhà đầu tư hoang mang rút vốn của họ ra khỏi nước Mỹ? Hoặc nếu họ không đầu tư vào Wall Street nữa? Tạp chí Newsweek từng cảnh báo: “Hãy quên đi cuộc chiến Iraq! Hãy quên đi cuộc tranh cãi xuyên Đại Tây Dương! Hiểm hoạ đang rình rập ở một mặt trận hoàn toàn khác”.
Những nền kinh tế dự trữ nhiều đôla Mỹ nhất thế giới:
1. Nhật Bản: 462,3 tỷ USD
2. Trung Quốc: 270,6 tỷ USD
3. Đài Loan: 162,3 tỷ USD
4. Hàn Quốc: 121,4 tỷ USD
5. Hong Kong: 111,9 tỷ USD
(Theo TTXVN)