Hiện nay, LSA và SSA đang gặp thuận lợi lớn là Chính quyền Bush vừa có chương trình hỗ trợ giải quyết tranh chấp về bán phá giá nhằm lấy lòng cử tri và giới công nghiệp trước thềm bầu cử Tổng thống sắp diễn ra. Vì vậy, vấn đề chỉ còn là LSA và SSA sẽ khởi kiện tổng số bao nhiêu nước bán phá giá tôm (hiện có các thông tin là 12 nước và 16 nước). Trong bất luận tình huống nào, theo ông Định, đều có tên VN trong danh sách.
“Vì thế, các cơ quan hữu quan của VN và doanh nghiệp cần gấp rút chuẩn bị đối phó một khi Mỹ chính thức khởi kiện”, ông Định nói.
Tháng 10, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) đã lập ra Uỷ ban tôm với vai trò nắm đầu mối tại VN cho vụ kiện sắp tới. Hôm qua, uỷ ban này đã họp với hơn 100 doanh nghiệp chế biến thuỷ sản tại tỉnh Cần Thơ để cùng nghe 4 công ty luật trình bày về quy định của Luật pháp Mỹ đối với các vụ kiện bán phá giá, cũng như cập nhật thông tin mới nhất liên quan đến vụ kiện tôm.
Sau cuộc họp này, Uỷ ban tôm sẽ quyết định các bước tiến hành nếu LSA và SSA khởi kiện (có hai hướng là các doanh nghiệp và VASEP cùng kháng kiện, và các kháng kiện tập trung vào VASEP). Đồng thời, uỷ ban cũng sẽ đề xuất các biện pháp phối hợp với các nước cùng bị Mỹ kiện bán phá giá tôm.
Hiện nay, mỗi năm VN xuất khẩu gần 500 triệu USD tôm vào thị trường Mỹ. Theo các chuyên gia, một khi bị áp thuế bán phá giá, ngành công nghiệp này sẽ chịu ảnh hưởng không nhỏ, khi mà tỷ suất lợi nhuận của các doanh nghiệp tôm còn rất thấp.
Trong vụ kiện VN bán phá giá cá tra, basa tại Mỹ cuối năm trước, Bộ Thương mại Mỹ đã áp thuế nhập khẩu rất cao, gần 64%. Mặc dù vậy, theo ông Lê Công Định, nếu so với mức thuế dự tính 191% như ban đầu thì vẫn có thể coi là VN đã giành phần thắng. “Điều này thể hiện qua lượng cá tra, basa xuất vào Mỹ hiện nay giảm không đáng kể so với trước khi mặt hàng này bị áp thuế bán phá giá”, ông nói.
Trong thời gian từ 1995 đến 2002, thế giới có 2.160 vụ kiện bán phá giá. Trong đó, các nước bị kiện nhiều nhất là Trung Quốc (308 vụ); Hàn Quốc (160 vụ); Mỹ (115 vụ); Thái Lan (81 vụ); Nga (77 vụ)... Việt Nam đã trải qua 6 vụ kiện, trong đó riêng năm 2002 là 3 vụ.
|
Các quy định về chống bán phá giá tại Mỹ đã được nêu trong Luật thuế quan năm 1930. Theo đó, các doanh nghiệp có quyền khiếu nại Chính phủ của một nước có hàng hoá xuất khẩu vào Mỹ bán với giá thấp hơn giá công bằng hoặc việc nhập khẩu đó được trợ giá bởi các chương trình của chính phủ nước ngoài. Bộ Thương mại phải xác định việc phá giá hoặc trợ giá có tồn tại hay không, và nếu có thì mức phá giá hoặc trợ giá đó là bao nhiêu; cùng lúc Uỷ ban thương mại quốc tế Mỹ cũng sẽ xác định việc phá giá hay trợ giá có làm tổn hại nghiêm trọng hoặc có nguy cơ gây tổn hại nghiêm trọng đối với ngành sản xuất trong nước hay không. Sau khi tổ chức, cá nhân nộp đơn khiếu nại đồng thời cho cả Uỷ ban thương mại quốc tế và Bộ Thương mại, Uỷ ban thương mại quốc tế sẽ tiến hành điều tra sơ bộ về sự tổn hại. Bộ Thương mại sẽ điều tra sơ bộ để xác định có hiện tượng phá giá hay trợ giá hay không. Thời gian cho điều tra sơ bộ tối đa là 140 ngày. Kết luận của Uỷ ban thương mại quốc tế sẽ khẳng định liệu có “dấu hiệu xác đáng” rằng một ngành nghề đang hoặc có nguy cơ bị tổn hại hay không. Nếu khẳng định không thì cuộc điều tra sẽ chấm dứt. Nếu kết luận là có thì việc điều tra sẽ tiếp tục (bất chấp kết luận của Bộ thương mại là có hiện tượng phá giá hay không). Quy định của Mỹ về điều tra bán phá giá rất chi tiết, với việc lập các bảng câu hỏi dài và phức tạp nhằm tìm kiếm thông tin từ các bên liên quan; quy định về mức giá so sánh được gồm giá xuất khẩu (khi hàng hoá được bán để xuất khẩu vào Mỹ cho một bên mua độc lập trước khi được chuyển vào Mỹ), hoặc giá xuất khẩu suy định (khi hàng hoá được bán trực tiếp vào Mỹ bởi chi nhánh của nhà sản xuất hoặc xuất khẩu nước ngoài)... Bên cạnh đó có đáng chú ý là việc cân nhắc tình trạng một nước có phải là “nền kinh tế thị trường hay không”. Đối với một nước được coi là nền kinh tế phi thị trường, Bộ thương mại Hoa Kỳ sẽ sử dụng giá so sánh tại bất kỳ một nước nào có sản xuất hàng hoá tương tự nhưng được coi là nền kinh tế thị trường (điều này có lợi cho bên khởi kiện là tổ chức, cá nhân của Mỹ). Bước tiếp theo là các hoạt động điều tra cuối cùng của cả hai cơ quan này. Trong đó, Bộ thương mại có 75 ngày (hoặc 135 ngày nếu trường hợp phức tạp) để đưa ra quyết định cuối cùng xem hàng hoá nhập khẩu có được bán thấp hơn giá công bằng hay được trợ giá hay không. Sau đó, Uỷ ban thương mại quốc tế sẽ căn cứ vào quyết định này để trong vòng 45 ngày (hoặc 75 ngày nếu trường hợp phức tạp) đưa ra quyết định (được coi là quyết định cuối cùng của cuộc điều tra). Các bên liên quan nếu không đồng ý với phán quyết của hai cơ quan này có thể khiếu kiện lên Toà án quốc tế Mỹ hoặc WTO (trong trường hợp đã là thành viên tổ chức này). Thời gian cho một vụ kiện chống bán phá giá tại Mỹ sẽ kéo dài tối đa từ 280 đến 420 ngày (tuỳ trường hợp phức tạp hoặc không phức tạp). |
Thanh Xuân