![]() |
|
Anh Trần Văn Hoàn đang đãi trùn chỉ. |
Đem theo bộ đồ nghề là 2 cái vợt lưới và 6 cái chậu nhựa, đúng 13 giờ, cả nhóm thanh niên khoảng 26-27 tuổi, xuống xuồng khởi hành. Chiếc xuồng máy 6 ngựa rẽ sóng về ngã ba Rạch Cát. Trên đường đi, khi gặp ghe lớn chạy ngang, những con sóng như muốn nhận chìm chiếc xuồng mỏng manh. Cứ mỗi lần như vậy, anh Nguyễn Văn Hương, người điều khiển chiếc xuồng, phải tắt máy, để xuồng trôi tự do và nhấc chân vịt lên cho những người còn lại gỡ rác. Sau hơn 1 giờ “ngao du”, cả nhóm tới sông Chợ Đệm (ấp 3, xã Tân Nhựt, Bình Chánh). Nhường “tay lái” cho Hoàn, Hương cầm theo 2 chậu nhựa và vợt rồi nhảy xuống nước, lúc này đồng hồ chỉ 14h30 phút. Đi thêm đoạn nữa, Thà, một thành viên khác của nhóm, đột nhiên hô lớn: “Dừng lại! Bãi này “đánh” được”. Hoàn tắt máy, thả neo gần bờ, cầm mái chèo chọc thẳng xuống lớp bùn dưới nước. Khi nhấc lên, những “sợi” nhỏ li ti màu đỏ hồng bám vào mái chèo, đó là trùn chỉ. Và rồi Hoàn nhảy ùm xuống dòng nước lạnh buốt với bộ đồ nghề của mình.
Chốc chốc, Hoàn lại lặn xuống... vớt bùn bỏ vào vợt, sau đó trồi lên dùng hết sức lắc qua lắc lại cho bùn trôi hết. Đến khi trong vợt chỉ đọng một vốc “bùn” pha màu đỏ hồng, Hoàn mới cho vào chậu. Liên tục như vậy, sau khi đã “đãi” đầy 1 chậu, Hoàn ra hiệu cho "đồng đội" đưa xuồng qua lấy, đó cũng là lúc gương mặt Hoàn đã tím tái vì lạnh. Hoàn nói: “Làm nghề này thao tác phải nhanh, nếu không, nước rút trơ đáy sông thì coi như đói. Vì vậy “thợ” không bao giờ đi ủng!”. Nói xong anh lại bơi sang bờ bên kia để tiếp tục công việc. Một thành viên tên Thà, đưa 2 bàn chân chi chít thẹo nói: “Nếu bị tai nạn như vọp bẻ, đạp mảnh sành thì... tự xử. Chỗ người này đứng cách chỗ người kia đến 2 cây số thì biết kêu cứu vào đâu!”. Rồi Thà khẳng định: “Làm nghề này, ai không dính thẹo, không phải thợ”.
18 giờ, khi nhiều căn nhà ở hai bên bờ sông Chợ Đệm bắt đầu lên đèn cũng là lúc 4 chậu nhựa của Hoàn đã đầy trùn chỉ. Thà ra lệnh “nhổ neo”. Tổng cộng 5 con người, 6 chậu “hàng”, chiếc xuồng mỏng manh trĩu nặng hơn. Suốt chặng đường về, trời tối đen như mực, lênh đênh trên dòng nước, với sức nặng của chiếc xuồng. Đến 19 giờ, xuồng cập bến Ngã ba Rạch Cát, lác đác xuồng của các bạn thợ khác cũng tụ tập về đây.
Thà cho biết thêm: “Nghề này tuy không gò bó giờ giấc, nhưng chua lắm! Nhiều lúc gặp “lái” dưới miền Tây đặt “hàng” gấp, bất chấp trời mưa hay nắng, dù 1 hay 2 giờ đêm cũng phải thức để “đãi” cho kịp. Có những cái Tết, “thợ” chỉ dám nghỉ ngày mùng 1. Những hôm ấy, nhìn cảnh người ta kê nồi bánh chưng nấu dọc hai 2 bờ sông, “thợ” chỉ lặng thinh với một tâm trạng nhớ quê da diết. Phải làm luôn Tết vì nếu không kịp giao hàng, lần sau “mối lái” sẽ “xù” và sẽ đói”. Mỗi ngày trung bình 1 “thợ” đãi được 50-60 lon trùn, cũng kiếm được 100.000 đồng.
Tuy nhiên, thu nhập từ nghề đãi trùn chỉ cũng khá thất thường. Mùa mưa còn đỡ, chứ vào mùa khô, trùn ở các sông rạch không còn, “thợ” phải ra các sông lớn (tận Bình Triệu, Thanh Đa) để đãi. Trùn chỉ chỉ sống ở những con nước có phù sa, sạch và không nhiễm phèn.
Thà là người thành đạt nhất trong cái “xóm trùn chỉ” này. “Gia tài” anh hiện có là 5 chiếc xuồng máy (6 triệu đồng/chiếc), 1 chiếc ghe trọng tải 14 tấn dùng để chở cát thuê. Thà kể, năm 1994 xuất ngũ về quê (Thái Bình) cưới vợ, anh đưa cả gia đình vào TP HCM tìm kế sinh nhai. Lúc đầu anh cũng làm “thợ” đãi trùn chỉ như bao nhiêu đồng hương khác. Đến năm 2001, khi “bạn thợ” ngày càng đông, nhưng không ai làm “mối lái”, dẫn đến tình trạng nhiều khi “hàng” làm ra nhiều nhưng bị ép giá, anh quyết định chuyển sang làm “mối lái”. Dần dần tiết kiệm mua được xuồng máy, rồi cả chiếc ghe chở cát để khi nào “bạn thợ” không đãi được trùn thì chuyển sang nghề đi ghe. Với giá thị trường hiện nay (dao động từ 1.800-2.000 đồng/lon), theo anh Thà, cuộc sống của người “thợ” đãi trùn cũng tạm ổn. Nếu tiết kiệm, mỗi “thợ” có thể gửi về cho gia đình ngoài quê mỗi tháng vài trăm ngàn đồng. Anh Hoàn cho biết: “Sau một ngày làm việc, phần lớn “thợ” ngủ vùi để lấy sức khỏe cho ngày hôm sau. Số còn lại ra các quán cà phê đánh cờ tướng giải trí”. Cả xóm hơn 50 anh em, nhưng chỉ có 4 người có gia đình. “Nghe đến nghề này dân địa phương ai cũng sợ! Nói gì đến chuyện người ta gả con gái cho!” - Thà nói.
(Theo Người Lao Động)
