Theo Sở Tài nguyên Môi trường TP HCM, lưu lượng khai thác nước dưới đất chiếm 30% nhu cầu nước của thành phố. Tuy nhiên nguồn nước này đang chịu nhiều áp lực như ô nhiễm, tụt nước của các tầng chứa nước dẫn đến việc xâm nhập mặn và có thể sụt lún mặt đất.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là quá trình sản xuất công nghiệp và sự gia tăng dân số. Theo Sở Tài nguyên Môi trường, còn có nguyên nhân từ phía quản lý như thiếu các văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách; công tác quản lý nước dưới đất trên địa bàn thành phố không ổn định. Từ năm 1994 đến nay, công tác quản lý đã được chuyển đổi tách nhập nhiều lần, khiến đội ngũ cán bộ yếu, phương tiện phục vụ thiếu.
Dự thảo hạn chế khai thác nước ngầm sẽ giúp khắc phục các tồn tại trên và tạo yếu tố bền vững trong việc khai thác. Hạn chế được dựa trên các điều kiện như: Nguồn nước đã bị ô nhiễm hàm lượng nitơ, mực nước nhỏ hơn 1/2 trữ lượng nước khai thác cho phép, các khu vực có đường ống cấp nước của công ty cấp nước thành phố đảm bảo nhu cầu cho các tổ chức và cá nhân sử dụng nước.
Theo Sở Tài nguyên Môi trường, sơ đồ hạn chế vùng khai thác nước dưới đất sẽ được điều chỉnh hằng năm.
Số liệu của Sở cho biết, trữ lượng nước ngầm động là 800.000 m3 và mới chỉ sử dụng 500.000 m3. Đặc thù của của nước ngầm động là nếu không sử dụng thì sẽ tự mất đi qua các đường sông, hồ hay bốc hơi. Do đó, một nghịch lý đặt ra là phải hạn chế khai thác trong khi khai thác chưa hết lượng nước ngầm động. Sở Tài nguyên Môi trường giải thích, mặc dù lượng nước khai thác chưa hết nhưng vẫn phải đảm bảo việc tái tạo lại nguồn nước, khắc phục tình trạng ô nhiễm và sụt lún đất.
Quanh vấn đề cấm hay hạn chế khai thác nước ngầm, ông Lê Việt Hùng, đại diện Sở Tài chính cho rằng, có thể hạn chế bằng cách kiểm soát chặt chẽ phí nước thải và tính thuế tài nguyên đối với nguồn nước ngầm. Còn theo đại diện Sở Tư pháp, việc cấm khai thác nước ngầm có thể thực hiện được, vì luật đã quy định là các địa phương cấp thành phố có thể ra quyết định cho phép khai thác hay không.
Ông Phạm Việt Thắng, đại diện Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, nếu có quy định cấm thì cần xác định cấm từng vùng có nguy cơ nhiễm mặn và sụt lún cao. Biện pháp hạn chế khai thác nước ngầm hiện nay vẫn mang tính bị động. Về lâu dài, cần kết hợp với các phương thức khác như bơm nước trực tiếp vào vùng bị sụt lún, hạn chế việc bê tông hóa các khu vực có thể trồng được cây xanh giữ nước...
Tuấn Dũng