Bùi Việt Thắng -
Cũng chính ông viết: "Truyện có nghĩa là chuyển. Nó đem cái ý của Kinh để chuyển cho đời sau. Đó thực là cái giúp cho lời văn của thánh nhân. Nó là cái giá trị nhất của việc ghi chép".
Hiểu theo tinh thần của Lưu Hiệp thì cấu tứ (hay là tứ) chính là linh hồn của tác phẩm, tạo nên một thế đứng, thế nhìn và cách cảm nhận đời sống của nhà văn: cấu tứ là mô hình của tác phẩm, là quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người của nó. Cấu tứ vì thế không phải là đặc quyền của thơ trữ tình mà là cốt tủy của các tác phẩm thuộc các thể loại khác như tiểu thuyết, kịch và cả ký, tản văn. Cấu tứ không chỉ hiển diện trong đơn vị tác phẩm mà cả trong mọi thể loại văn học, cả trong sáng tác của một nhà văn.
Nhà văn Dạ Ngân có một nhận xét thú vị: Truyện ngắn thiếu tứ như một người đàn ông mặc complet mà lại thiếu giày.
Trong kho tàng truyện ngắn cổ điển thế giới, ta đã được thưởng thức những kiệt tác hay vì tứ như: Chiếc lá cuối cùng của O.Henry, Con đầm pich của Pushkin, Một chuyện đùa của Chekhov... Trong văn học hiện đại VN, các tác gia truyện ngắn như Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp... đã cống hiến cho độc giả những truyện ngắn đặc sắc nhờ tứ phổ quát (ví dụ như Một bữa no của Nam Cao).
Đọc truyện ngắn trẻ hôm nay, tôi nhận thấy người viết dường như ít đầu tư cho việc tìm tứ. Có vẻ như họ cứ để chất liệu đời sống tự nhiên ùa vào tác phẩm, thiếu sự gia công gọt giũa, thành ra xô bồ, rối rắm. Lại có khuynh hướng đào bới cái Tôi một cách tùy tiện hoặc triết luận vu vơ, lạc lối. Trong khi thực ra như Milan Kundera nhận xét, triết luận chính là một cái tôi thể nghiệm nó tác thành nên dạng cấu trúc mới của tiểu thuyết hiện đại.
Tôi muốn nhận xét trướcvề hai truyện ngắn gần đây nhất của Đỗ Tiến Thụy: Sóng ao làng (Văn nghệ số 11, ngày12/3) và Những nốt nhạc còn xanh (Văn nghệ quân đội, số 619, tháng 4). Sóng ao làng với tiêu đề nôm na, chưa đọc những tưởng là chuyện đất đai làng quê, chuyện đồng nội dân dã. Nhưng tôi tìm ra cái tứ truyện: "Mắt Thuân vấp vào chồng kinh xếp vuông vức nơi đầu giường, cạnh chiếc chăn đơn cũng vuông vức như chăn lính. Lẫn trong chồng kinh dày ngất, Thuân sững sờ nhận ra những cuốn sách thuở xưa hai đứa cùng say mê: Thơ tình Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Pushkin, có cả Exenin - ông hoàng thi ca đồng nội - Hãy lắng nghe em nhé chuyện đồng quê. Thuân mỉm cười chua chát:
- Thưa thầy, thầy tu thế này thì bao giờ mới tới Niết bàn?
Thuyên cười buồn:
- Thuyên chỉ mượn chùa để lánh đời chứ không trốn đời?
Và câu kết truyện: "Trong đầu Thuân đang cuộn lên những ngọn sóng từ đáy ao làng".
Hóa ra Thuyên chỉ lánh đời chứ không trốn đời, vậy đó là một cách hành xử cũng như xưa, những người thiện tâm mà bất ý thì tìm cách ở ẩn, chứ chẳng phải là: "Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn người đến chốn lao xao".
Hóa ra không chỉ có biển cồn sóng dữ mà ở bất cứ xó xỉnh nào của cõi người này vẫn cứ nổi sóng, kể từ cái ao làng, khi mà con người như Thuyên, Thuân cứ đa đoan, đa sự, đa tình.
Tôi thích hơn cả là Những nốt nhạc còn xanh, truyện này Đỗ Tiến Thụy viết tài hoa hơn nhưng không kém phần đau đớn về nhân tình thế thái: "Mỗi con người là một nốt nhạc. Mỗi nốt nhạc tuy có độ cao thấp khác nhau nhưng đều có giá trị riêng, không thể đánh đổi" (lời thầy Đoàn - nhân vật chính của truyện).
Đọc đến đây tôi nhớ lại lời của nhà thơ Nga hiện đại Eptusenko: "Đến mỗi cái lá mà còn ngời lên màu sắc riêng của mình". Số phận thầy Đoàn, cô Hoan dẫu có qua dâu bề vẫn ngời lên vẻ đẹp của "những nốt nhạc xanh". Truyện này còn ló ra một cách kết thúc độc đáo khi Đỗ Tiến Thụy đưa sự thật vào: "Thầy Đoàn ơi, nếu đọc những dòng chữ này xin thầy liên hệ với em ngay theo số máy 0912288506. Chúng em và cô Hoan rất mong thầy". Số máy đó của tác giả là thật, nhưng kèm theo 3 phán đoán khác nhau về số phận thầy Đoàn - người gieo "những nốt nhạc xanh" vào tâm hồn con người.
Hai truyện tôi vừa dẫn trên chứng tỏ Đỗ Tiến Thụy viết lên tay nhờ nỗ lực tìm ra tứ. Nhờ tìm tứ cho truyện ngắn nên anh không sa vào "kể nội dung", mà tiến gần đến "viết nội dung" theo cách xác định của nhà văn Hoàng Ngọc Hiến.
Trở lại tập Gió đồng se sắt của Đỗ Tiến Thụy gồm 11 truyện ngắn và 1 bút ký. Trong 11 truyện ngắn ở tập này, tôi thích nhất là 2 truyện: Người đàn bà đợi mưa và Sang mùa - đều có cái tứ rất nhân văn: Hạnh phúc của con người nhiều khi là những gì giản dị nhất (một đứa con, một cánh tay đàn ông vững chắc để nương tựa, với người phụ nữ là tất cả hợp lẽ tự nhiên). Ai làm chồng rồi sẽ dễ chia sẻ với nhân vật anh trong Sang mùa khi nghe vợ báo tin vui - họ sẽ có con: "Anh sung sướng muốn phát cuồng lên, hét to một tiếng rồi bế xốc chị lên tay quay một hồi chóng mặt".
Đọc Đỗ Tiến Thụy, riêng tôi một lần nữa chia sẻ với nhà văn Hoàng Ngọc Hiến khi ông trình bày vấn đề Kể lại nội dung và viết nội dung như là một khía cạnh của lý thuyết tự sự. Ông nhận xét: "Người VN đến nay vẫn thiên về văn hóa kể. Người VN không thoải mái khi phải làm việc với những hình thức tư duy khác tư duy kể. Ông đánh giá cao Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài - những nhà văn đang nỗ lực viết nội dung khi sáng tác. Tôi muốn kể thêm Phan Thị Vàng Anh qua hai tập Khi người ta trẻ và Hội chợ.
Hy vọng Đỗ Tiến Thụy trong cuộc bứt phá này sẽ được, đến một độ nào đó, xếp vào hàng những nhà văn chinh phục độc giả bằng truyện ngắn với những tứ đặc sắc của nó.
(Nguồn: Văn nghệ trẻ)