Quang cảnh xung quanh Hồ Gươm năm 1954, với rất ít nhà cửa. Đa số người dân đi bộ, xe đạp hay tàu điện. Trên đường rất hiếm xuất hiện xe ôtô. Cột điện được dựng xung quanh hồ với đường dây điện chằng chịt. Thời điểm này, người Hà Nội vừa sử dụng bóng đèn điện, vừa sử dụng đèn dầu chiếu sáng. Ảnh: TTXVN
Ngày nay, quanh Hồ Gươm, nhà cửa san sát, nhà cao tầng mọc lên, hàng dài xe ôtô đỗ hai bên đường và đèn điện thắp sáng suốt đêm. Thay cho những đường dây điện chằng chịt xưa kia là hệ thống dây điện được đi ngầm dưới lòng đất, tạo quang cảnh hiện đại, văn minh cho phố phường. Với tuyến đường chiếu sáng dài hơn 5.300 km, hiện Hà Nội có hơn 212.000 bộ đèn các loại, hơn 2.700 tủ điều khiển chiếu sáng. Ánh điện nối dài hoạt động của phố thị, nhịp sống của người dân. Ảnh: Thanh Hải
Quang cảnh xung quanh Hồ Gươm năm 1954, với rất ít nhà cửa. Đa số người dân đi bộ, xe đạp hay tàu điện. Trên đường rất hiếm xuất hiện xe ôtô. Cột điện được dựng xung quanh hồ với đường dây điện chằng chịt. Thời điểm này, người Hà Nội vừa sử dụng bóng đèn điện, vừa sử dụng đèn dầu chiếu sáng. Ảnh: TTXVN
Ngày nay, quanh Hồ Gươm, nhà cửa san sát, nhà cao tầng mọc lên, hàng dài xe ôtô đỗ hai bên đường và đèn điện thắp sáng suốt đêm. Thay cho những đường dây điện chằng chịt xưa kia là hệ thống dây điện được đi ngầm dưới lòng đất, tạo quang cảnh hiện đại, văn minh cho phố phường. Với tuyến đường chiếu sáng dài hơn 5.300 km, hiện Hà Nội có hơn 212.000 bộ đèn các loại, hơn 2.700 tủ điều khiển chiếu sáng. Ánh điện nối dài hoạt động của phố thị, nhịp sống của người dân. Ảnh: Thanh Hải
Năm 1954, Hà Nội có diện tích 152 km2, gồm 4 quận, 4 huyện, dân số 436.000 người. Ngoài khu phố cổ ở Ba Đình, Hoàn Kiếm có phần đông đúc, nhà cửa khang trang, các quận huyện còn lại nhà cửa thưa thớt, phần lớn là nhà tranh tre, lụp xụp. Bức ảnh trên ghi lại hình ảnh một góc phố Hàng Thiếc vào năm 1952, nổi bật là ngôi nhà ba tầng của Nhật Trương, nổi tiếng giàu có nhất phố. Ảnh: Tư liệu
Hà Nội nay có diện tích 3.359,82 km2, rộng gấp 22 lần diện tích thành phố cách đây hơn 70 năm, "trung tâm" không chỉ ở quận lõi Hoàn Kiếm, Ba Đình, Đống Đa, Hai Bà Trưng mà mở rộng đến vành đai 3, với các quận Cầu Giấy, Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm, Thanh Xuân, Tây Hồ. Các tòa nhà cao tầng, chung cư, trung tâm thương mại… “mọc lên như nấm”, lung linh trong ánh đèn điện mỗi tối. Sau 70 năm, Thủ đô Hà Nội không chỉ phát triển về quy mô mà còn lột xác về hạ tầng đô thị. Hiện dân số khoảng 8,5 triệu người. Trong ảnh là diện mạo quận Hà Đông, cách trung tâm thành phố 5km - rực rỡ trong ánh đèn về đêm, là một trong những quận phát triển mạnh của thành phố. Ảnh: Thanh Hải
Năm 1954, Hà Nội có diện tích 152 km2, gồm 4 quận, 4 huyện, dân số 436.000 người. Ngoài khu phố cổ ở Ba Đình, Hoàn Kiếm có phần đông đúc, nhà cửa khang trang, các quận huyện còn lại nhà cửa thưa thớt, phần lớn là nhà tranh tre, lụp xụp. Bức ảnh trên ghi lại hình ảnh một góc phố Hàng Thiếc vào năm 1952, nổi bật là ngôi nhà ba tầng của Nhật Trương, nổi tiếng giàu có nhất phố. Ảnh: Tư liệu
Hà Nội nay có diện tích 3.359,82 km2, rộng gấp 22 lần diện tích thành phố cách đây hơn 70 năm, "trung tâm" không chỉ ở quận lõi Hoàn Kiếm, Ba Đình, Đống Đa, Hai Bà Trưng mà mở rộng đến vành đai 3, với các quận Cầu Giấy, Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm, Thanh Xuân, Tây Hồ. Các tòa nhà cao tầng, chung cư, trung tâm thương mại… “mọc lên như nấm”, lung linh trong ánh đèn điện mỗi tối. Sau 70 năm, Thủ đô Hà Nội không chỉ phát triển về quy mô mà còn lột xác về hạ tầng đô thị. Hiện dân số khoảng 8,5 triệu người. Trong ảnh là diện mạo quận Hà Đông, cách trung tâm thành phố 5km - rực rỡ trong ánh đèn về đêm, là một trong những quận phát triển mạnh của thành phố. Ảnh: Thanh Hải
Hình ảnh cầu Long Biên những năm 1950. Chiếc cầu được xây dựng từ năm 1898 đến năm 1902 bởi Công ty Daydé & Pillé, và được đưa vào sử dụng vào năm 1903, gắn với nhiều dấu mốc lịch sử của Thủ đô. Cầu được thiết kế có đường sắt cho xe lửa chạy ở giữa và hai bên là đường dành cho người đi bộ, xe thô sơ, được sử dụng cho giao thương thời bấy giờ. Ảnh: Tư liệu
Sau 70 năm, ngoài cầu Long Biên, Hà Nội còn xây 8 cây cầu khác bắc qua sông Hồng như: cầu Chương Dương, Nhật Tân, Thanh Trì, Vĩnh Tuy, Vĩnh Thịnh… nhằm phục vụ lượng phương tiện lưu thông lớn từ Hà Nội tới các tỉnh, thành trong cả nước, tạo thuận tiện cho giao thương cũng như đẩy mạnh phát triển kinh tế.
Hình ảnh cầu Long Biên những năm 1950. Chiếc cầu được xây dựng từ năm 1898 đến năm 1902 bởi Công ty Daydé & Pillé, và được đưa vào sử dụng vào năm 1903, gắn với nhiều dấu mốc lịch sử của Thủ đô. Cầu được thiết kế có đường sắt cho xe lửa chạy ở giữa và hai bên là đường dành cho người đi bộ, xe thô sơ, được sử dụng cho giao thương thời bấy giờ. Ảnh: Tư liệu
Sau 70 năm, ngoài cầu Long Biên, Hà Nội còn xây 8 cây cầu khác bắc qua sông Hồng như: cầu Chương Dương, Nhật Tân, Thanh Trì, Vĩnh Tuy, Vĩnh Thịnh… nhằm phục vụ lượng phương tiện lưu thông lớn từ Hà Nội tới các tỉnh, thành trong cả nước, tạo thuận tiện cho giao thương cũng như đẩy mạnh phát triển kinh tế.
Sau ngày thống nhất đất nước, bên cạnh cơ sở hạ tầng thô sơ, nghèo nàn, cuộc sống của người dân thiếu thốn mọi bề. Hà Nội cũng như miền Bắc chưa khắc phục xong hậu quả chiến tranh. Mọi hàng hóa từ cây kim, sợi chỉ đến lương thực đều do nhà nước bao cấp. Cán bộ hay dân thường được phát tem phiếu riêng dựa trên vị trí công việc, điều này càng khiến đời sống gặp nhiều khó khăn. Trong ảnh là những người dân chen chúc mua đồ Tết tại cửa hàng mậu dịch những năm 1960 - một hình ảnh rất quen thuộc trong thời kỳ bao cấp. Ảnh: Tư liệu
Đến nay, Hà Nội là trung tâm đầu não về chính trị - hành chính quốc gia, là trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước, đóng góp tới 16% GDP cả nước, 18,5% thu ngân sách, 20% thu nội địa. Đời sống người dân được cải thiện, chất lượng sống ngày càng nâng cao. Ảnh: Ngọc Thành
Sau ngày thống nhất đất nước, bên cạnh cơ sở hạ tầng thô sơ, nghèo nàn, cuộc sống của người dân thiếu thốn mọi bề. Hà Nội cũng như miền Bắc chưa khắc phục xong hậu quả chiến tranh. Mọi hàng hóa từ cây kim, sợi chỉ đến lương thực đều do nhà nước bao cấp. Cán bộ hay dân thường được phát tem phiếu riêng dựa trên vị trí công việc, điều này càng khiến đời sống gặp nhiều khó khăn. Trong ảnh là những người dân chen chúc mua đồ Tết tại cửa hàng mậu dịch những năm 1960 - một hình ảnh rất quen thuộc trong thời kỳ bao cấp. Ảnh: Tư liệu
Đến nay, Hà Nội là trung tâm đầu não về chính trị - hành chính quốc gia, là trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước, đóng góp tới 16% GDP cả nước, 18,5% thu ngân sách, 20% thu nội địa. Đời sống người dân được cải thiện, chất lượng sống ngày càng nâng cao. Ảnh: Ngọc Thành
Sau ngày giải phóng, nông nghiệp Thủ đô được coi trọng phát triển. Tuy nhiên, đó là nền nông nghiệp thô sơ, lạc hậu, bị ảnh hưởng nặng nề, gặp nhiều khó khăn do chiến tranh tàn phá. Trong ảnh là Hợp tác hóa nông nghiệp ở huyện Đông Anh phục vụ công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc sau năm 1954. người nông dân phải làm việc rất vất vả mà năng suất, sản lượng lại thấp. Ảnh: Tư liệu
Sau 70 năm, hệ thống thủy nông, thủy lợi lớn đã được xây dựng dần đáp ứng được yêu cầu tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp. Máy móc dần thay thế con người trên đồng ruộng, nâng cao năng suất, chất lượng lao động, giúp tiết kiệm thời gian và sức người. Thời gian qua, ngành nông nghiệp Hà Nội cũng đẩy mạnh chuyển đổi số nhằm nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh để cải thiện thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, theo Quy hoạch thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn 2050, nhiều mục tiêu được đặt ra cho Hà Nội như trở thành trung tâm kinh tế tài chính lớn của Việt Nam với sức ảnh hưởng trong khu vực; trung tâm khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo. Ảnh: Ngọc Thành
Sau ngày giải phóng, nông nghiệp Thủ đô được coi trọng phát triển. Tuy nhiên, đó là nền nông nghiệp thô sơ, lạc hậu, bị ảnh hưởng nặng nề, gặp nhiều khó khăn do chiến tranh tàn phá. Trong ảnh là Hợp tác hóa nông nghiệp ở huyện Đông Anh phục vụ công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc sau năm 1954. người nông dân phải làm việc rất vất vả mà năng suất, sản lượng lại thấp. Ảnh: Tư liệu
Sau 70 năm, hệ thống thủy nông, thủy lợi lớn đã được xây dựng dần đáp ứng được yêu cầu tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp. Máy móc dần thay thế con người trên đồng ruộng, nâng cao năng suất, chất lượng lao động, giúp tiết kiệm thời gian và sức người. Thời gian qua, ngành nông nghiệp Hà Nội cũng đẩy mạnh chuyển đổi số nhằm nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh để cải thiện thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, theo Quy hoạch thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn 2050, nhiều mục tiêu được đặt ra cho Hà Nội như trở thành trung tâm kinh tế tài chính lớn của Việt Nam với sức ảnh hưởng trong khu vực; trung tâm khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo. Ảnh: Ngọc Thành
Bên cạnh nông nghiệp, sau giải phóng, ngành công nghiệp Thủ đô chậm phát triển, chưa ứng dụng được công nghệ hiện đại. Ngành công nghiệp điện tử hầu như không có, công nghệ chế biến thực phẩm, cơ khí nông nghiệp, hóa chất, chế tạo máy ở mức độ thô sơ, hoạt động cầm chừng. Kinh tế đối ngoại, ngoại thương không phát triển. Ảnh: Tư liệu
Hiện tại, các khu công nghiệp phát triển mạnh, nhiều nhà máy sản xuất hiện đại được xây dựng với ngành nghề đa dạng ở ngoại thành Thủ đô. Thành phố đang định hướng phát triển công nghệ cao, với việc đẩy mạnh đầu tư vào hạ tầng công nghệ, các khu công nghệ cao và các trung tâm nghiên cứu, sáng tạo. Sự hiện diện của nhiều doanh nghiệp công nghệ lớn, các trường đại học danh tiếng và nguồn nhân sự trẻ sáng tạo, Hà Nội là điểm đến cho các nhà đầu tư trong lĩnh vực công nghệ. Trong ảnh là khu công nghiệp Thăng Long. Ảnh: Giang Huy
Bên cạnh nông nghiệp, sau giải phóng, ngành công nghiệp Thủ đô chậm phát triển, chưa ứng dụng được công nghệ hiện đại. Ngành công nghiệp điện tử hầu như không có, công nghệ chế biến thực phẩm, cơ khí nông nghiệp, hóa chất, chế tạo máy ở mức độ thô sơ, hoạt động cầm chừng. Kinh tế đối ngoại, ngoại thương không phát triển. Ảnh: Tư liệu
Hiện tại, các khu công nghiệp phát triển mạnh, nhiều nhà máy sản xuất hiện đại được xây dựng với ngành nghề đa dạng ở ngoại thành Thủ đô. Thành phố đang định hướng phát triển công nghệ cao, với việc đẩy mạnh đầu tư vào hạ tầng công nghệ, các khu công nghệ cao và các trung tâm nghiên cứu, sáng tạo. Sự hiện diện của nhiều doanh nghiệp công nghệ lớn, các trường đại học danh tiếng và nguồn nhân sự trẻ sáng tạo, Hà Nội là điểm đến cho các nhà đầu tư trong lĩnh vực công nghệ. Trong ảnh là khu công nghiệp Thăng Long. Ảnh: Giang Huy
Thời điểm những năm 1950, Hà Nội là thành phố không có nhiều phương tiện giao thông cơ giới. Người dân chủ yếu đi bộ, xe đạp hoặc xích lô. Trong ảnh là hình ảnh người dân đi lại trên một con phố thuộc quận Đống Đa những năm 1950 - 1960. Ảnh: Lê Vượng
Thay vì chỉ có xe đạp, xích lô, hiện toàn thành phố có trên 8 triệu phương tiện đăng ký gồm 1,1 triệu ôtô, 6,7 triệu xe máy, 200.000 xe đạp điện, chưa kể khoảng 1,2 triệu phương tiện của các tỉnh thành khác lưu thông trên địa bàn. Trong khi đó tỷ lệ đất dành cho giao thông chỉ đạt 12-13% (theo quy hoạch cần 20-26%), giao thông tĩnh chưa đạt 1% (quy hoạch là 3-4%). Đến nay, Hà Nội có nhiều tuyến cao tốc hướng tâm được đưa vào khai thác như: Hà Nội - Hải Phòng; Láng - Hòa Lạc - Hòa Bình; Hà Nội - Thái Nguyên; Hà Nội - Lạng Sơn; Hà Nội - Lào Cai; Pháp Vân - Cầu Giẽ… Ảnh: Ngọc Thành
Thời điểm những năm 1950, Hà Nội là thành phố không có nhiều phương tiện giao thông cơ giới. Người dân chủ yếu đi bộ, xe đạp hoặc xích lô. Trong ảnh là hình ảnh người dân đi lại trên một con phố thuộc quận Đống Đa những năm 1950 - 1960. Ảnh: Lê Vượng
Thay vì chỉ có xe đạp, xích lô, hiện toàn thành phố có trên 8 triệu phương tiện đăng ký gồm 1,1 triệu ôtô, 6,7 triệu xe máy, 200.000 xe đạp điện, chưa kể khoảng 1,2 triệu phương tiện của các tỉnh thành khác lưu thông trên địa bàn. Trong khi đó tỷ lệ đất dành cho giao thông chỉ đạt 12-13% (theo quy hoạch cần 20-26%), giao thông tĩnh chưa đạt 1% (quy hoạch là 3-4%). Đến nay, Hà Nội có nhiều tuyến cao tốc hướng tâm được đưa vào khai thác như: Hà Nội - Hải Phòng; Láng - Hòa Lạc - Hòa Bình; Hà Nội - Thái Nguyên; Hà Nội - Lạng Sơn; Hà Nội - Lào Cai; Pháp Vân - Cầu Giẽ… Ảnh: Ngọc Thành
Tàu điện - phương tiện di chuyển quen thuộc của người dân Hà Nội, phục vụ nhân dân rất đắc lực trong nhiều thập niên, từ thời kỳ sơ tán chống Mỹ đến khi hòa bình trên toàn đất nước. Tàu điện Hà Nội tồn tại hơn 90 năm, đến năm 1991 thì chính thức chấm dứt hoạt động, đường ray bị bóc đi, đầu máy, toa xe ngừng sử dụng. Ảnh: Tư liệu
Thay vì tàu điện chạy trên các tuyến phố như thế kỷ 20, Hà Nội đầu tư xây dựng các tuyến tàu điện trên cao. Thành phố hiện có 2 tuyến đường sắt được khai thác là metro Nhổn - Ga Hà Nội và Cát Linh - Hà Đông. Thành phố đặt mục tiêu sở hữu hệ thống đường sắt đô thị hiện đại gồm 15 tuyến vào năm 2045, với tổng mức đầu tư dự kiến 55 tỷ USD. Bên cạnh tàu điện trên cao, Hà Nội còn đang thực hiện xây dựng đường sắt ngầm. Tháng 11 vừa qua, Ban Quản lý đường sắt đô thị Hà Nội (MRB) cho hay robot đào ngầm (TBM có tên Thần tốc) đã hoàn thành được 631 m.
Trong ảnh là tuyến tàu điện Nhổn - Ga Hà Nội trên cao với thiết kế hiện đại, công nghệ mới, được khai thác thương mại từ ngày 8/8/2024. Tuyến tàu này có thiết kế tối đa 80km/h. Theo tính toán, tuyến có thể vận chuyển hơn 500.000 lượt hành khách mỗi ngày, đêm. Ảnh: Giang Huy
Tàu điện - phương tiện di chuyển quen thuộc của người dân Hà Nội, phục vụ nhân dân rất đắc lực trong nhiều thập niên, từ thời kỳ sơ tán chống Mỹ đến khi hòa bình trên toàn đất nước. Tàu điện Hà Nội tồn tại hơn 90 năm, đến năm 1991 thì chính thức chấm dứt hoạt động, đường ray bị bóc đi, đầu máy, toa xe ngừng sử dụng. Ảnh: Tư liệu
Thay vì tàu điện chạy trên các tuyến phố như thế kỷ 20, Hà Nội đầu tư xây dựng các tuyến tàu điện trên cao. Thành phố hiện có 2 tuyến đường sắt được khai thác là metro Nhổn - Ga Hà Nội và Cát Linh - Hà Đông. Thành phố đặt mục tiêu sở hữu hệ thống đường sắt đô thị hiện đại gồm 15 tuyến vào năm 2045, với tổng mức đầu tư dự kiến 55 tỷ USD. Bên cạnh tàu điện trên cao, Hà Nội còn đang thực hiện xây dựng đường sắt ngầm. Tháng 11 vừa qua, Ban Quản lý đường sắt đô thị Hà Nội (MRB) cho hay robot đào ngầm (TBM có tên Thần tốc) đã hoàn thành được 631 m.
Trong ảnh là tuyến tàu điện Nhổn - Ga Hà Nội trên cao với thiết kế hiện đại, công nghệ mới, được khai thác thương mại từ ngày 8/8/2024. Tuyến tàu này có thiết kế tối đa 80km/h. Theo tính toán, tuyến có thể vận chuyển hơn 500.000 lượt hành khách mỗi ngày, đêm. Ảnh: Giang Huy
Trong giai đoạn khôi phục và phát triển kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (từ 1958 đến 1960 ), với sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, cơ sở vật chất mạng lưới viễn thông tại Hà Nội đã được tăng cường. Năm 1960, tổng đài điện thoại tự động đầu tiên 3.000 số do Cộng hòa dân chủ Đức giúp xây dựng đã đi vào hoạt động. Trong ảnh, tổ quản lý tổng đài điện thoại tự động đầu tiên (năm 1960) đang làm việc tại tổng đài. Ảnh: Tư liệu
Hà Nội ngày nay trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao và phát triển công nghệ hàng đầu của cả nước, tiến tới là trung tâm khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo của khu vực Đông Nam Á trên một số lĩnh vực. Trong ảnh là một nhóm người ở các vùng, miền khác nhau họp online qua màn hình vô tuyến nhờ kết nối Wi-Fi. Ảnh: Trần Huấn
Trong giai đoạn khôi phục và phát triển kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (từ 1958 đến 1960 ), với sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, cơ sở vật chất mạng lưới viễn thông tại Hà Nội đã được tăng cường. Năm 1960, tổng đài điện thoại tự động đầu tiên 3.000 số do Cộng hòa dân chủ Đức giúp xây dựng đã đi vào hoạt động. Trong ảnh, tổ quản lý tổng đài điện thoại tự động đầu tiên (năm 1960) đang làm việc tại tổng đài. Ảnh: Tư liệu
Hà Nội ngày nay trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao và phát triển công nghệ hàng đầu của cả nước, tiến tới là trung tâm khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo của khu vực Đông Nam Á trên một số lĩnh vực. Trong ảnh là một nhóm người ở các vùng, miền khác nhau họp online qua màn hình vô tuyến nhờ kết nối Wi-Fi. Ảnh: Trần Huấn
Điện được coi là xương sống của sản xuất, là cơ sở, nền tảng để tiến hành công cuộc điện khí hóa đất nước những năm đầu giải phóng và tạo dựng một cuộc sống tiện nghi cho nhân dân. Trong ảnh là ánh đèn rực sáng trước cổng Nhà máy Đèn Bờ Hồ tháng 10/1954 đánh dấu một cột mốc mới của quân và dân Thủ đô khi lần đầu làm chủ dòng điện. Ảnh: Tư liệu
Tổng công ty Điện lực TP Hà Nội (EVNHANOI) song hành cùng nhịp sống, cùng sự đi lên của thành phố. Điện trở thành mạch máu của nền kinh tế, tham gia vào dây chuyền sản xuất của nhà máy, xí nghiệp, hiện hữu trong đời sống sinh hoạt của mỗi người, mỗi nhà. Điện cùng Thủ đô và cả nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Ảnh: EVNHN
Điện được coi là xương sống của sản xuất, là cơ sở, nền tảng để tiến hành công cuộc điện khí hóa đất nước những năm đầu giải phóng và tạo dựng một cuộc sống tiện nghi cho nhân dân. Trong ảnh là ánh đèn rực sáng trước cổng Nhà máy Đèn Bờ Hồ tháng 10/1954 đánh dấu một cột mốc mới của quân và dân Thủ đô khi lần đầu làm chủ dòng điện. Ảnh: Tư liệu
Tổng công ty Điện lực TP Hà Nội (EVNHANOI) song hành cùng nhịp sống, cùng sự đi lên của thành phố. Điện trở thành mạch máu của nền kinh tế, tham gia vào dây chuyền sản xuất của nhà máy, xí nghiệp, hiện hữu trong đời sống sinh hoạt của mỗi người, mỗi nhà. Điện cùng Thủ đô và cả nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Ảnh: EVNHN
Song Chi