Trại Tam Hiệp, nơi giam giữ người nước ngoài lao động bất hợp pháp lớn nhất Đài Loan, nằm lưng chừng đồi, xa khu dân cư, cách thành phố Đài Bắc khoảng 1 giờ ôtô.
Ông phó trại cho biết, trong trại có 90 người Việt (16 nam, 74 nữ), chiếm gần hai phần ba tổng số lao động bất hợp pháp các nước đang bị giam trong trại. Trong nỗi chán chường cùng cực, anh Nguyễn Anh H., quê Ba Vì - Hà Tây cho biết, anh đã bỏ việc ở một công ty dệt có trụ sở tại Chupei và bị cảnh sát bắt cách nay 3 tháng khi đang đi lang thang. Tương tự, anh Đỗ Văn T. quê Hải Dương nói, khi bị bắt vào trại anh đã phải dốc hết những đồng tiền cuối cùng - tương đương gần 9 triệu đồng, để nộp phạt cho cảnh sát, cộng với án tạm giam chưa biết bao giờ về.
Chị Lê Thị N., quê Nam Định, làm công việc chăm sóc một cụ già 82 tuổi và 3 đứa trẻ trong một gia đình có tổng cộng 9 người. Chị kể, chị phải thức khuya, dậy sớm, làm việc quần quật, mỗi ngày chỉ chợp mắt được khoảng 3-4 tiếng đồng hồ, nhưng vẫn không làm chủ vui lòng. Bà chủ thường xuyên chửi: "Mày gọi điện bảo công ty mày đưa mày về nước đi". Kiệt sức và bị đối xử thậm tệ, nên ngày mùng 3 Tết Bính Tuất chị bỏ trốn, 4 tháng sau thì bị bắt.
Khốn khổ nhất là trường hợp của Phạm Thị Đ, sinh năm 1981, chị cả của ba chị em một gia đình nông dân nghèo ở Bắc Ninh. Tháng 4/2003, Đ. được một công ty xuất khẩu lao động ở Hà Nội đưa sang Đài Loan giúp việc cho một gia đình ở Đài Bắc. Theo hợp đồng, mức lương tối thiểu của Đ. không dưới 15.840 Đài tệ (NT$) - mức lương tối thiểu của một lao động nước ngoài làm việc tại đây, tương đương hơn 7 triệu đồng.
Nhưng thực tế không phải vậy. Cô gái này cho biết tháng đầu chủ chỉ trả 650 NT$, tháng kế tiếp được hơn 1.000 NT$. Đ. phản ứng thì "bị chủ chửi mắng, dùng tay cào vào cổ, 2 lần dùng thìa múc canh đánh vào đầu và đe dọa đuổi việc". Sợ quá, Đ. bỏ việc đến Đài Trung làm chui. Nhưng cuộc sống chui nhủi, luôn phải lánh mặt đồng hương, không biết bị bắt lúc nào không thể cứ kéo dài mãi, nên ngày Đ. ra đầu thú để mong có cơ hội trở về Việt Nam (vì hộ chiếu đã bị chủ giữ).
Sau khi Đ. bị tạm giam, cảnh sát Đài Loan đã liên hệ với chủ bảo lãnh cho cô về làm việc lại. Nhưng hai bên "cơm không lành, canh không ngọt", nên thay vì bảo lãnh cho Đ. ra trại, bà chủ của cô lại hô hoán, làm đơn tố giác với cảnh sát rằng Đ. ăn cắp của bà 120.000 NT$ (khi thì khai bị mất 180.000 NT$). Sau nhiều lần thẩm vấn, không tìm ra chứng cứ buộc tội, ngày 17/6/2006, tòa án Đài Bắc tuyên án Đ. vô tội. Nhưng cái khổ vẫn chưa chịu buông cô gái quê nghèo Bắc Ninh. Biết được bản án này, chủ của Đ. làm đơn kháng án... Đ. tiếp tục bị tạm giam.
Gánh nặng chi phí oằn vai
Trừ số làm "chui", còn lại trên 60.000 lao động Việt đang làm việc trong các nhà máy, giúp việc nhà; chưa kể khoảng 80.000 cô dâu Việt Nam.
Ở một công ty thuộc Tập đoàn NEG chuyên sản xuất màn hình TV và kính máy bay có 51 lao động Việt Nam. Môi trường làm việc tương đối tốt: phòng ngủ có máy lạnh, có phòng vi tính kết nối Internet, có thể chat về nhà và chơi game. Theo anh Trần Ngọc Cần, quê ở Kiên Giang, công việc ở đây có nặng nhọc thật, nhưng bù lại thu nhập cũng kha khá, mỗi tháng khoảng 22.000 NT$ - tương đương 10,5 triệu tiền Việt. Nếu chịu "cày" thêm, có người đạt 30.000 - 35.000 NT$.
Lương cao, nhưng số tiền gửi về gia đình không nhiều, do có quá nhiều thứ chi phí. Anh Trần Đình Nhật, quê Thái Bình làm được 8 tháng, thu nhập 26.000 - 27.000 NT$/tháng, chỉ mới gửi về nhà được 50 triệu đồng. Trong khi khoản nợ mà gia đình anh phải thế chấp vay ngân hàng, "vay nóng" bên ngoài để lo cho chuyến đi này là 120 triệu đồng vẫn chưa trả hết.
Ông Hoàng Như Lý, Trưởng văn phòng kinh tế - văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc, nhận xét so với lao động các nước đang làm việc tại Đài Loan thì người lao động Việt có ưu điểm, cái gì cũng hơn người: thân thiện hơn, dễ hòa nhập hơn và quậy phá cũng hơn. Bằng chứng là số lao động Việt bỏ trốn luôn chiếm ngang bằng hoặc nhiều hơn lao động bỏ trốn của 5 nước khác cộng lại.
Để có một chỗ làm tại xứ Đài, lao động Việt Nam phải chịu gần 10 loại chi phí như: phí quản lý (mỗi năm bằng một tháng lương cơ bản) phải trả cho doanh nghiệp Việt Nam, phí môi giới cho các công ty Đài Loan, phí quản lý cho phía Đài Loan, thuế thu nhập phải trả cho Đài Loan, tiền ký túc xá, tiền ăn, tiền điện.
Ông Nguyễn Bá Hải, trưởng ban quản lý lao động Việt Nam tại Đài Loan, còn bổ sung thêm phí an gia (chủ sử dụng lao động giữ lại một phần lương, thực chất là một loại tiền cọc để chống lao động bỏ trốn, sẽ trả lại cho người lao động sau khi hết hợp đồng).
Sau khi trừ các loại chi phí, thu nhập của lao động Việt tại Đài Loan mất gần một nửa. Bỏ trốn ra ngoài làm "chui" chính là để thoát khỏi các khoản chi phí này, với mong muốn sớm có tiền trả nợ và làm giàu. Rất nhiều lao động Việt Nam tại xứ Đài vẫn nghĩ vậy.
"Có thể nào các ông bà chủ xứ Đài tuyển lao động trực tiếp mà không qua các công ty môi giới?" Câu trả lời, theo ông Nguyễn Bá Hải là "Có". Cụ thể đã có khoảng 3 công ty của Đài Loan, trong đó có Công ty Nam Á chuyên sản xuất mạch điện tử của Tập đoàn Formosa đã từng qua Việt Nam trực tiếp tuyển 600 - 700 lao động với mức lương đút túi mỗi lao động là 700 - 800 USD/tháng, mà không cần phải qua các công ty môi giới, chi phí rất thấp. Tuy nhiên, ông Hải cũng cho rằng "chi phí môi giới" mà lao động Việt Nam đang oằn vai gánh chịu là một thực tế bất cập chưa thể hóa giải ngay được.
Anh H. - một cán bộ có thâm niên 7 năm làm công tác đào tạo nghề cho lao động xuất khẩu - còn bổ sung thêm một loại phí khác mà chúng tôi tạm gọi là phí làng xã. Anh H. kể, nhiều lao động than khi đi chứng các loại giấy tờ liên quan để bổ sung cho hồ sơ xin đi XKLĐ, họ buộc phải chung chi cho các quan cấp một mớ, quan xã một mớ; lên huyện, lên tỉnh lại phải chung chi cho quan huyện, quan tỉnh một mớ nữa. Đó cũng là nguyên nhân góp phần làm gia tăng số lao động Việt bỏ trốn tại Đài Loan.
Nhưng luật pháp không có chỗ cho sự "cảm thông". Theo quy định của phía Đài Loan, lao động nước ngoài bỏ trốn bị bắt sẽ bị tạm giam, bị phạt 18.000 NT$; người sử dụng lao động bất hợp pháp sẽ bị phạt một khoản tương đương 20.000 USD. Mới đây, Chính phủ Việt Nam cũng ra quy định: lao động Việt ở nước ngoài bỏ trốn, bị trục xuất về nước sẽ phải chịu xử phạt hành chính từ 5-50 triệu đồng, hoặc nếu nghiêm trọng sẽ bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm.
(Thanh Niên)