Ra tòa vì lập công ty... bất đắc dĩ
Theo tài liệu các bên cung cấp, cuối tháng 11/2000, bà H.L. và ông A.M. cùng góp vốn thành lập một công ty chuyên sản xuất hàng may mặc, túi xách, giày dép và mua bán hàng nữ trang. Điều lệ công ty được bà L. và ông M. thông qua ngày 30/11/2000. Sở KH&ĐT TP HCM cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho công ty ngày 12/12/2000. Vốn điều lệ là 1 tỷ đồng, trong đó tiền mặt là 300 triệu đồng, hiện vật là 700 triệu đồng. Ông M. là người đại diện công ty, có nghĩa vụ thực hiện các thủ tục hành chính để công ty hoạt động. Bà L. là giám đốc, trực tiếp quản lý và điều hành công tác kinh doanh.
Thế nhưng chỉ ít hôm sau, ngày 3/1/2001, bà L. gửi đơn đến các cơ quan chức năng xin không chịu trách nhiệm liên đới về mọi mặt của công ty này. Bà L. phủ nhận việc thành lập công ty, đề nghị Sở KH&ĐT và cơ quan thuế thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và không bán hóa đơn cho công ty.
Bà L.: "Tôi bị lừa"
Bà có chồng chưa cưới là người nước ngoài. Hai người có cửa hàng chuyên kinh doanh hàng may mặc, giày dép. Cuối năm 2000, họ có mâu thuẫn. Sợ mất nửa cửa hàng, bà L. đến gặp ông M., giám đốc một công ty tư vấn.
“Ông M. nói phải chuyển cửa hàng K. thành công ty TNHH. Tôi thỏa thuận tiền tư vấn là 3.000 USD, và sau khi thành công sẽ chia cho ông M. 30% giá trị cửa hàng K.”, bà L. kể. Thế nhưng chuyện tranh chấp cửa hàng không xảy ra, trong khi đó việc xúc tiến thành lập công ty về cơ bản đã xong.
Ông M.: Tôi đã góp 30% vốn
Bằng chứng của ông là biên bản góp vốn ngày 30/11/2000.
Vì sự phản đối của bà L., cuộc họp hội đồng thành viên (2 người) theo đề nghị của ông M., để thông qua kế hoạch hoạt động và quản lý, công bố việc thành lập công ty... không được tiến hành. Công ty như vậy không thể hoạt động. Ông M. giữ toàn bộ con dấu, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, hồ sơ pháp lý khác của công ty.
Sau nhiều lần không thỏa thuận được, ngày 6/2/2001, ông M. khởi kiện bà L. tại TAND TP HCM, yêu cầu bà thực hiện các công việc theo quy định của pháp luật để đưa công ty chung này vào hoạt động. Nếu bà L. không đồng ý, dẫn đến giải thể công ty, thì bà phải trả số tiền mà ông đã góp là 300 triệu đồng. Qua các lần hòa giải, hai người đồng ý giải thể công ty, song bà L. không chấp nhận trả tiền.
Sơ thẩm: Bà L. thắng kiện
Ngày 21/6/2001, Tòa Kinh tế thành phố đưa vụ kiện ra xét xử. HĐXX cho rằng biên bản góp vốn của hai người không phù hợp Luật Doanh nghiệp vì không kê khai số vốn mà mỗi bên đóng góp. Luật sư của bà L. cho rằng biên bản này “có vấn đề”, vì theo Luật Doanh nghiệp, việc góp vốn được tiến hành sau khi công ty thành lập, song trong vụ này, đã góp trước (ngày 30/11/2000) rồi mới thành lập (ngày 12/12/2000). Ông M. cũng không trình được chứng cứ chứng minh việc giao 300 triệu đồng cho bà L. theo yêu cầu của tòa.
Kết quả, HĐXX tuyên buộc đôi bên làm thủ tục giải thể công ty, và bác yêu cầu của ông M. đòi bà L. trả tiền.
Vẫn còn chờ hồi kết
Ông M. không đồng ý với phán quyết của tòa, nên ngày 22/6/2001 đã kháng án. Tòa Phúc thẩm tối cao đưa vụ việc ra xét xử ngày 16/11/2001, và cho rằng chứng cứ hai bên đưa ra chưa đủ cho tòa phán quyết. Tòa hoãn xử, chờ các bên hòa giải hoặc cấp đủ chứng cứ.
Cho đến nay, công ty này vẫn còn tư cách pháp nhân, dù không hoạt động. Ông M. cho biết đã trình đủ chứng cứ và sẵn sàng chờ chiến thắng ở phiên tòa cuối cùng này.
(Theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn)