![]() |
|
Tiếng khóc của trẻ, nhất là ở trẻ chưa biết nói, là một loại ngôn ngữ đặc biệt. Mỗi kiểu khóc khác nhau đều biểu thị một yêu cầu nào đó. Y học hiện đại chia tiếng khóc ra làm 2 loại: sinh lý và bệnh lý. Tiếng khóc sinh lý biểu hiện sự khó chịu của trẻ đối với môi trường (nóng lạnh) hoặc một trạng thái cơ thể (đói, khát, buồn ngủ). Còn tiếng khóc bệnh lý xuất hiện khi trẻ đau đớn hay có rối loạn, bệnh tật trong cơ thể. Một số bệnh tật phản ánh qua tiếng khóc: - Khóc từng cơn, kèm theo nôn mửa, đại tiện như nước: Có khả năng trẻ bị lồng ruột. - Khóc thét liên tục, thỉnh thoảng ngừng một lát rồi lại khóc, kèm theo nôn mửa: Có khả năng trẻ bị bệnh ở não hay màng não. - Khóc thét, không nhanh không chậm, sắc mặt trắng nhợt, vã mồ hôi, nôn mửa, tiêu chảy, không cho sờ vào bụng, nếu sờ vào thì khóc to hơn: Có thể trẻ bị viêm ruột cấp, rối loạn tiêu hóa hoặc nhiễm giun. - Khóc với âm điệu bình thường, trẻ ở trạng thái không yên, dỗ thế nào cũng không nín: Trẻ bị đau đầu, ngạt mũi, cảm cúm. - Khóc yếu ớt, xen lẫn tiếng rên ngắt quãng: Có thể trẻ bị viêm phổi và suy tim, phải theo dõi sát sao. - Khóc không yên, kèm theo sốt, lắc đầu, vò tai: Nên nghĩ đến bệnh viêm tai giữa. - Khóc suốt đêm, sợ hãi, vã mồ hôi nhiều, nhất là mồ hôi trộm: Có khả năng trẻ bị còi xương giai đoạn đầu. - Khóc trước khi ngủ: Thường là do bị giun kim bò ra cửa hậu môn, gây ngứa ngáy, khó chịu. - Khóc khi tiểu tiện: Thường là do viêm miệng niệu đạo, nhiễm trùng tấy đỏ. - Hễ ngậm vú là khóc, không chịu bú: Nhiều khả năng niêm mạc lợi bị xung huyết, viêm miệng nên trẻ không bú được. - Khóc dữ dội, luôn tay quờ quạng, vơ nắm mọi vật để ôm vào người: Có thể trẻ bị mọc mụn, ngứa ngáy khó chịu do ẩm, nóng. - Khóc sau khi đi đại tiện: Thường do rạn nứt hậu môn. Một số kiểu tiếng khóc sinh lý - Đói: Tiếng khóc này gần như gắn chặt với tiếng khóc kia, hoặc trẻ khóc rồi dừng lại, sau đó tiếp tục khóc, xen giữa là những động tác mút tay. Nếu sau khi cho bú, một thời gian ngắn sau trẻ lại khóc thì có thể do mẹ thiếu sữa, bú chưa no hoặc sữa pha quá nhạt. - Khát: Trẻ khóc không to như lúc đói. Nếu dùng bình sữa cho ăn, trẻ sẽ không quay đầu đi mà mút lấy đầu vú hoặc há miệng chờ đợi. Nếu không cho bú kịp thời, trẻ mới khóc trở lại. - Buồn ngủ: Trẻ khóc với giọng ban đầu tương đối thấp. Nếu xung quanh ồn ào quá không ngủ được thì trẻ sẽ khóc to hơn và liên tục. Chỉ cần ôm ấp vỗ về, trẻ sẽ ngừng khóc và ngủ. - Làm nũng: Trẻ khóc lúc cao, lúc thấp, có thể không ra nước mắt, chân tay múa may lung tung, mắt nhìn sang trái, sang phải. Trong trường hợp này, nên bế và vỗ về trẻ. - Hoảng sợ do tiếng động, ánh sáng, đêm tối hoặc bị vật gì đó kẹp phải: Trẻ sẽ khóc thét lên, toàn thân giãy giụa lung tung. - Đái dầm hoặc nách, bẹn bị hăm: Tiếng khóc bình thường, không có gì đặc biệt, đôi khi trẻ thét to lên, nước mắt giàn giụa. BS Phan Quốc Đống, Sức Khỏe & Đời Sống |
