![]() |
|
"Tôi không dám mơ được sống đến ngày hôm nay chứ chưa nói đến việc được về Nhà hát Lớn" - Phạm Duy trải lòng trước đêm nhạc của ông tại nơi chứng kiến sự ra đời và những bước đi âm nhạc đầu tiên của mình. Ảnh: Ngọc Trần. |
- Vì sao ngày trở về Hà Nội với ông lại thiêng liêng như vậy?
- Khi sang Mỹ được ba, bốn năm, tôi đã muốn về quê nhưng chưa có cơ hội. Tôi đem tâm sự ấy của mình vào trong câu hát: “Rồi đây anh sẽ đưa em về nhà”. Niềm mong ước của tôi từ năm 80 thế kỷ 20 giờ đã thành sự thật. Tôi công khai cám ơn những người Hà Nội đã có lòng yêu, đã cho tôi điều mà tôi không thể tưởng tượng được: xuất hiện tại Nhà hát Lớn sau 60 năm trời. Tôi vốn quen bình thường hóa cảm xúc nhưng ngày trở về Hà Nội với tôi là một việc rất thiêng liêng. Các cụ ngày xưa vẫn nói “Chim bay về tổ, cá lội về nguồn, lá rụng về cội” đúng là không sai chút nào.
Hà Nội bây giờ khác xưa cả nghìn lần. Hàng Dầu của tôi không còn bán dầu mà chuyển sang bán dép nên đáng ra phải gọi là phố Hàng Dép. Cuộc đời thay đổi nhưng kỷ niệm không thể nào mất. Mỗi lần ra Hà Nội, tôi chọn khách sạn ngay gần nhà tôi cũ, ra đó ngồi xệp xuống thềm nhà ăn bún ốc mơ tưởng đến ngày xưa, kệ tiếng ồn, kệ xung quanh. Tôi hơi hối hận vì viết ít bài về Hà Nội quá. Lúc mới bắt đầu sáng tác, tôi viết Gươm tráng sĩ, xưng tụng rùa thần. Nhà tôi cách Hồ Gươm chừng 100 m nên Hoàn Kiếm rất ám ảnh tôi. Mấy mươi năm sau, khi chuẩn bị về Việt Nam, tôi có phổ nhạc bài thơ của một nữ sĩ: Nhớ mùa xuân Hà Nội.
- Từ khi hồi tịch Việt Nam, ông tiếp tục sự nghiệp sáng tác của mình ra sao?
- Nếu ai có hỏi tôi làm gì khi về Việt Nam, tôi trả lời là “làm thinh”. Cách đây 5-10 năm tôi vẫn còn trẻ lắm, vẫn còn đi hát, bây giờ thì hơi già rồi, đã đến tuổi hưu. Tôi muốn về đây để sống chết với quê hương. Giờ chỉ còn hai việc tôi cần làm nốt. Một là hát giữa lòng Hà Nội, hai là hoàn thành Trường ca Kiều. Trước đây, ở bên Mỹ, tôi đã làm dở dang đến đoạn Kiều gặp Tú Bà, khi về nước tưởng bỏ dở không ngờ vẫn còn cảm hứng. Hiện tôi đã viết đến đoạn Kiều gặp Từ Hải. Nhiều người thường hỏi tôi về mối liên hệ của tôi với nàng Kiều cùng phận long đong lưu lạc, rằng Trường ca Kiều là tâm sự Phạm Duy hay tâm sự nàng Kiều, tôi nói, có lẽ là cả hai. Có một điều, tôi cam đoan tôi không “phản” cụ Nguyễn Du.
![]() |
|
"Ngày xưa tôi đi tìm cái bóng của mình. Giờ tôi đã tìm thấy và tôi đóng các cửa lại rồi" - nhạc sĩ Phạm Duy nói về con người mình những năm phiêu bạt xứ người. Ảnh: Ngọc Trần. |
- Xuất thân từ Hà Nội lại từng theo học nhạc ở Pháp, vì sao những bài hát của ông lại vận dụng nhiều ngôn ngữ dân ca, cải lương các vùng miền chứ không trau chuốt ngôn từ như các nhạc sĩ cùng thời?
- Ngay từ khi nhận mình làm kiếp ca nhân, tôi quan niệm đã là người Việt Nam phải đi tìm những nhạc liệu Việt Nam. Đại đa số nhạc sĩ thời đó hay đi theo các trường phái: Nga, Pháp… Tôi từng theo học ở Pháp hai năm nhưng cái học được chỉ là lề lối soạn nhạc, còn tôi muốn làm nhạc Việt Nam. Tôi có một may mắn hơn những anh em khác là từng có thời đi theo gánh hát cải lương, sống nhiều ở thôn quê, thuộc nhiều điệu dân ca địa phương, chưa kể những bài nhạc sân khấu: tuồng, chèo… Tôi cho rằng muốn bảo tồn, phát huy âm nhạc Việt Nam thì phải cải cách, biến hóa nó đi cho phù hợp với thời gian, thổi vào nó cái hơi thở thời đại, sử dụng những ngôn từ bình dân hợp với nhiều đối tượng khán giả nhưng không được dễ dãi. Ngày nay, tại sao lại có những bài hát bị gọi là thị trường, không có giá trị, ca từ chông chênh nhưng vẫn sống dai dẳng? Đó là do người nghe còn quá dễ dãi. Tuy nhiên, mình cũng không nên trách. Tuổi trẻ hiện nay không có nhiều ưu tư như thời của tôi. Thanh niên bây giờ chỉ thấy vui, nên để cho họ vui. “Khi xưa ai cấm duyên bà, bây giờ bà già bà cấm duyên tôi?”.
- Một điểm khác biệt nữa của Phạm Duy so với các nhạc sĩ khác là các sáng tác của ông chia làm nhiều mảng đa dạng chứ không chuyên sâu một thể thống nhất. Nguyên nhân nào khiến ông có sự phân loại này?
- Khi làm nhạc, tôi có ba loại. Nhạc tình thể hiện tình cảm của con người với con người: yêu nhau, đau khổ, hạnh phúc vì nhau. Nhạc xã hội nói đến cái vinh, cái nhục của đời người. Khi đến tuổi già, tôi không thể làm nhạc tình yêu. Ba mươi năm ở Mỹ cũng khiến tôi không hiểu về xã hội Việt Nam, tôi chuyển sang dòng nhạc tâm linh: con người với siêu nhiên, thần thánh nhưng những bài hát của tôi vẫn rất dễ hiểu. Thiền ca hóc búa, cao siêu nhưng tôi không viết theo kiểu xếp vòng tròn, mặc áo nâu, cạo trọc đầu. Tôi đi chơi ngoài đường vẫn thiền được. "Tôi nằm võng, võng đưa, võng đưa. A, trần gian lạc thú, A, tiên cảnh phiêu du. Cõi tử, cõi sinh, cõi tình, cõi hận… Tôi nằm võng, võng đưa, võng đưa. Tôi nằm đó nằm im mọi chỗ" (Cái võng). Cái võng đưa tôi đi khắp mọi nơi, trời đất, niềm vui, nỗi khổ nhưng tôi vẫn nằm yên, tôi vẫn là tôi, tôi vẫn là đời.
![]() |
|
Nhiều người đánh giá những ca sĩ trẻ hiện nay như Đức Tuấn hát nhạc Phạm Duy không thể hay bằng Thái Thanh. Nhưng nhạc sĩ cho rằng, mỗi thời, các ca sĩ có một cách hát, một thần thái khác nhau. Ảnh: Ngọc Trần. |
- Con người Phạm Duy có sự biến đổi gì theo từng chặng đường âm nhạc ông đi?
- Con người Phạm Duy không biến đổi, chỉ có cuộc đời biến đổi. Những gì tôi nghĩ bây giờ, tôi đã nghĩ từ những năm 1940. Trước sau, tôi là người nhạc sĩ kiên trì. Người nào không hiểu nói tôi kiêu hãnh, cứng đầu. Tôi không bao giờ đính chính những gì ai đó hiểu lầm tôi. Tôi cứ để sự thật dần dần sáng tỏ. Có điều khi một mình, tôi rất thoải mái, còn khi có vợ và tám đứa con thì mình buộc phải nghĩ nhiều hơn.
- Những sáng tác Phạm Duy thường chậm, buồn nên đối tượng nghe nhạc chủ yếu là người trung niên. Ông nghĩ sao nếu hai mươi, ba mươi năm nữa, những sáng tác Phạm Duy lùi vào dĩ vãng?
- Tôi cho rằng âm nhạc có ma lực. Người nghệ sĩ kiêm sáng tác và biểu diễn như tôi hình như bị ám ảnh. Trong suốt 60 năm đứng trên sân khấu, tối nào không được hát thì tối đó tôi buồn lắm. Khán giả cũng bị sức hút của ma lực ấy. Khi tôi làm Thiền ca, tôi không thể tưởng tượng được tôi đi hát gặp những cô bé 15-18 tuổi thuộc Thiền ca như cháo chảy. Có những gia đình thích Thiền ca, nhiều em nhỏ khi nghe cha mẹ hát, nhập tâm mà thuộc. Vì thế tôi không sợ là người già hay người trẻ, thời này hay thời sau, tác phẩm có giá trị ắt sẽ tồn tại mãi.
Ngọc Trần ghi


