![]() |
| Ông Hồ Bền. |
Những chuyến đi đánh cá thuê ngày càng dày đặc, da ông sạm đen lại nhưng gia đình chưa khá nổi. Năm 31 tuổi, ông cưới vợ. Đám cưới nghèo nhưng ấm tình làng nghĩa xóm. Đời ông sẽ yên phận ở xóm nghèo vùng biển này nếu những năm cuối thập niên 60 chiến sự không bùng nổ ác liệt. Mẹ, chị, cháu của ông lần lượt gục ngã dưới nòng súng giặc. Người em trai đi bộ đội cũng hy sinh. “Lần đó tôi tưởng sẽ không thể đứng lên nổi nếu bên tai không có tiếng khóc rấm rứt của vợ con...”, ông tâm sự.
Đầu năm 1970, gia đình ông phiêu dạt vào làng chài Phước Tỉnh. Tay trắng đến nơi đất mới, ông lại lăn lưng ra làm thuê trên các ghe cá. Cái nghèo vẫn quay quắt. Cả đại gia đình gồm vợ con và mấy người anh em cùng chen chúc trong một cái chòi rộng 3 m, dài 5 m, một bên vách kế nhờ chuồng heo của hàng xóm. Đói khổ, xót vợ con, việc gì ông cũng làm từ trực tiếp cầm lái đến thu lưới, phơi cá, rửa sàn tàu, nấu cơm... Đứa con trai nhỏ muốn thấy mặt ông có khi phải rờ trong bóng đêm. Thương con ông nuốt nước mắt rủ rỉ: “Con phải ráng! Đời cha khổ rồi. Cha quyết không thể để đời con phải khổ nữa đâu...”.
Vật vã mãi rồi cũng có ngày ông ưỡn ngực cười vang trước biển. Đó là một ngày cuối năm 1975, ông cùng anh em gom góp tất cả những gì dành dụm được sau bao năm tháng miệt mài làm thuê, đóng riêng một con tàu. Lần đầu tiên đứng thẳng lưng trên con tàu nhỏ xíu, máy 33 CV quay tay, ông cứ sợ đó là giấc mơ qua mau. Ông cười vang rồi lại tíu tít như đứa trẻ: “Biển ơi! Bền này đã có tàu rồi!”.
Ngày trước ông đi biển vì “không cưỡi trên nó thì nằm dưới nó”, nhưng bây giờ ông nghiệm ra được một điều dung dị: “Biển cả đâu có ác, chỉ vì mình không hiểu biển thôi”. Ông không chỉ đi biển bằng lòng dũng cảm, liều lĩnh như trước mà còn có cả sự thấu hiểu và kinh nghiệm. Có những chuyến tàu khác quay về lỗ nhưng tàu ông vẫn lặc lè tôm cá. Nhiều người hỏi bí quyết, ông chỉ lặng thinh chỉ vào đầu, chỉ ra biển và chỉ xuống bàn tay: “Động cái đầu mà tìm con cá, động cái tay mà làm”.
Những năm 80, khi thấy ông gom góp đóng thêm tàu, vợ con ai cũng e ngại chút vốn khó nhọc kiếm được sẽ bay mất. Ông trấn an cả nhà: “Khao khát của đời cha là được sống với biển. Cha liệu rồi. Nếu có gì thì tài sản của cha cũng là của dân của nước chứ mất đâu. Nhưng cha rành nghề biển thì chắc chắn vẫn được đi tàu chứ”. Con tàu vẫn là của ông, ròng rã theo ông. Mỗi chuyến ra khơi khoảng 10 ngày, ông kiếm được 50-70 triệu đồng.
Bây giờ, khi đã cùng anh em, con cháu trong nhà gây dựng được 18 chiếc tàu đánh bắt xa bờ, giá trị hàng tỷ đồng, người làm thuê rất đông. Song ông luôn quan tâm chu đáo với mọi người. Ông tâm niệm: “Dũng cảm chưa đủ. Không có tình người thì không thể vượt qua được gió bão. Dù đó là bão biển hay gió bão cuộc đời...”.
Đầu những năm 90, mặc dù vẫn còn miệt mài cầm lái tàu nhưng ông cũng lờ mờ nhìn ra được nỗi khổ của bà con làng chài. Ở đây không ai ngán cưỡi sóng biển, kiếm con cá, con tôm, nhưng mọi người rất ngại mỗi khi phải sửa chữa hay đóng mới tàu. Ông quyết định tụ tập anh em bàn chuyện xây dựng xưởng đóng tàu. Nhiều người ngỡ ngàng: “Chúi mũi dưới biển suốt ngày mà bày đặt lùm xùm tính lớn trên bờ sao nổi!”. Nhưng đến năm 1995, xưởng tàu Tân Bền với số vốn ban đầu 600 triệu đồng đã ra đời trên mảnh đất rộng 2 ha, gần cảng Phước Tỉnh. Ông được bầu làm giám đốc. Ngày “nhậm chức”, thắp nén hương giã từ nghề biển, ông nghẹn ngào: “Đời đã trọn với biển rồi, nhưng chưa xa biển đâu. Mấy con cứ vững tay lái. Cha ở nhà dõi theo...”.
Giao tàu lại cho con cháu, ông làm giám đốc theo kiểu của ông, một thủy thủ ăn to nói lớn nhưng dám sống hết mình hết dạ. Gặp chuyện khó, ông họp cổ đông lại, mỗi người một trí, kiếm cớ vượt qua. Chính phong cách này đã “hút” các ngư dân. Quanh năm, ở xưởng Tân Bền không lúc nào ngớt tiếng búa, tiếng cưa, tiếng cười nói. Những lúc cao điểm, xưởng thu hút tới 400 nhân công.
Không trực tiếp ra biển, nhưng ngồi ở nhà ông vẫn tính cặn kẽ được 120-150 triệu đồng chi phí xăng dầu, đá ướp, lương thực... cho mỗi chuyến ra khơi. Trận bão Linda năm 1997, 5 chiếc tàu của ông bị quật chìm. Xót xa đến dại người nhưng ông vẫn cứng cỏi: “Mấy đứa về được là mừng rồi, còn tàu bè mình sẽ gây dựng lại”. Qua trận đó, ông thức trắng mấy đêm truyền lại hết bí quyết một đời đi biển cho con cháu. Ông nói: “Đánh bắt xa bờ với tàu lớn, máy lớn bây giờ khác xưa rất nhiều. Biển lúc nào cũng là biển. Biển giận dữ nhưng cũng có nghĩa, có tình... Muốn sống với biển thì phải hiểu biển, yêu biển trước đã...”.
(Theo Tuổi Trẻ, Xuân Tân Tỵ).
