![]() |
|
TS Nguyễn Thành Vạn. |
- Thưa ông, điều kiện địa chất của Ninh Thuận và Bình Thuận có thuận lợi cho tích trữ nước ngầm?
- Điều kiện để trữ nước ngầm của Ninh Thuận, Bình Thuận khó vì có móng đá cứng lộ lên trên mặt nhiều, lớp đệ tứ trầm tích (bùn và cát) cũng phủ lên vùng đồng bằng rộng lớn và bị nhiễm mặn. Nhưng hai tỉnh này vẫn có nước ngầm do có nhiều vùng phát triển đá macma với các vết đứt gãy, nước mưa theo vết nứt ngấm xuống tạo thành những mạch ngầm.
- Sự phân bổ của nước ngầm ở hai tỉnh này thế nào?
- Một số khu vực trữ nước ngầm với trữ lượng tương đối tốt, ví dụ vùng Lương Sơn, Sông Quao, Hàm Thuận Bắc. Các cồn cát ven biển Nam Trung Bộ và một số cồn cát cổ nằm sâu trong đồng bằng ven biển cũng có nước.
- Thực tế người dân ở Bình Thuận, Ninh Thuận đã khoan nhiều giếng ngầm, nhưng vẫn không tìm ra nước?
- Kinh nghiệm của người dân là úp bát xuống đất, thấy hơi nước bốc lên thì có thể có nước. Thực tế, cũng có lúc đúng như vậy, nhưng đó chỉ là bồn nước nông nằm ở cồn cát (chỉ sâu 20-30 m). Còn đi sâu vào đất liền thì phải khoan đến 70-80 m may ra mới có.
Muốn khoan được nước ngầm ở khu vực này cần có chuyên môn của nhà địa chất và sự đầu tư của nhà nước để tìm ra đúng các khe nứt chứa nước ngầm. Dân tự làm thì không đủ sức.
- Các nhà khoa học có đánh giá gì về trữ lượng nước ngầm ở Bình Thuận và Ninh Thuận?
- Hiện nay chưa có số liệu mới nhất để đánh giá trữ lượng nước ngầm ở Ninh Thuận và Bình Thuận, xem nó có tụt hay không. Nhưng điều đáng lo ngại là có một số lỗ khoan trước kia là nước ngọt, nay là nước lợ. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là khoan nước giếng ngầm nhiều quá. Mặt khác do quá trình nước biển theo dòng sông đi vào đất liền và thẩm thấu theo chiều ngang, ngấm xuống đất, rồi xuống mạch ngầm. Hiện tượng này gặp rất nhiều ở Nam Bộ. Kể cả đồng bằng ở Thanh Hoá, Nghệ An, Đà Nẵng cũng có.
- Vậy giải pháp chống hạn cho Bình Thuận, Ninh Thuận là gì?
- Hai tỉnh này phải phối hợp khai thác nước mặt và nước ngầm hợp lý. Khai thác nước mặt bằng cách xây dựng công trình thủy lợi, thuỷ điện, nhưng cần nghiên cứu kỹ vị trí, lưu vực thu nước, khả năng điều tiết.
Riêng về vị trí, địa hình Ninh Thuận, Bình Thuận dốc, mùa mưa hứng rất nhiều nước từ sườn núi phía tây, thậm chí gây nên lũ quét nên phải nghiên cứu kỹ, đảm bảo hồ phải tích nước trong mùa lũ để nhả dần trong mùa hạn. Còn với nguồn nước ngầm hạn chế, Ninh Thuận, Bình Thuận chỉ nên dùng cho sinh hoạt, trường hợp cấp bách có thể sử dụng cho vật nuôi.
- Ông nghĩ sao trước nhiều ý kiến cho rằng quá trình sa mạc hoá ở Ninh Thuận, Bình Thuận đang diễn ra nhanh?
- Hiện nay, quá trình sa mạc hoá ở Ninh Thuận, Bình Thuận diễn ra do 3 yếu tố. Thứ nhất là gió thổi đưa cát từ biển vào vùng phía Tây. Thứ hai là khai thác nước ngầm quá mức dẫn đến khô kiệt. Thứ ba là do con người càng ngày càng lùi dần vào chỗ có cây, có nước. Đối với Bình Thuận, Ninh Thuận, sa mạc hoá diễn ra căng thẳng hơn do điều kiện khí hậu tự nhiên khắc nghiệt, mưa ít, lượng bốc hơi cao, nền địa chất chủ yếu là đá cứng và dần phong hoá thành cát.
Giải pháp chủ yếu là phải tìm và giữ nguồn nước ngầm. Nếu không làm tốt công tác thủy lợi, điều tra nước ngầm thì quá trình sa mạc hoá diễn ra ngày càng nhanh.
- Trữ lượng nước ngầm vùng Tây Nguyên ra sao?
- Tây Nguyên nói chung có cấu trúc địa chất giàu nước ngầm, thậm chí là phong phú nhất miền Nam. Ở đây có một vòm đá bazan, do cấu tạo địa chất có nhiều vết nứt nẻ, nước mưa chui xuống tạo thành những tầng chứa nước rất giàu. Cái khó của Tây Nguyên là giàu nước ngầm, nhưng nằm sâu, trung bình 100 m. Vùng đá khác ở Tây Nguyên như đá phiến sét cũng có nước ngầm, song dùng cho các sinh hoạt khác thì được, dùng để ăn thì không vì có nhiều bụi sét.
- Sống trong vùng giàu nước, tại sao bà con Tây Nguyên lại khát?
- Địa hình Tây Nguyên dạng vòm, khi nước mưa xuống, một phần ngấm vào đất đỏ bazan, một phần chảy dọc theo các sườn núi cao. Do lớp vỏ bazan phong hóa thành một lớp đất đỏ dày 30-40 m, nước đi xuyên qua lớp đất này và nằm chủ yếu trong phần đá cứng. Đá cứng thì lại nằm rất sâu. Vì thế cứ mùa khô, Tây Nguyên thiếu nước do nước trên mặt không có. Các dòng chảy trên mặt rất dễ bị cạn kiệt do đi theo sườn núi và chảy thẳng xuống khe ngầm.
- Giải pháp chống hạn cho Tây Nguyên là gì?
- Người dân làm đơn lẻ thì không thể được. Nhà nước cần quy hoạch, chỉ đạo địa phương, ban ngành phối hợp thực hiện các dự án thủy lợi, thủy điện (công trình đa mục tiêu) để giữ nước mặt. Thứ đến là có dự án khoan sử dụng nước ngầm.
Riêng nước tưới tiêu thì chỉ có thể sử dụng nước mặt. Nước ngầm không thể đáp ứng, vì nó rất quý hiếm. Trên thế giới, ít có một quốc gia nào sử dụng nước ngầm cho tưới tiêu.
- Việc khai thác nước ngầm cho tưới tiêu ở Tây Nguyên hiện nay dẫn đến hệ quả gì, thưa ông?
- Theo quan trắc 15 năm nay, mực nước ngầm ở Buôn Mê Thuột, Đăk Nông, Pleiku đã tụt xuống, dao động trong khoảng 0,2-0,3 m. Điều đó cho thấy chúng ta đã khai thác nước ngầm ồ ạt, phá vỡ sự cân bằng. Theo quy luật, cần có một thời gian đủ dài để bổ cập nước từ nguồn khác sau khi lấy nước ngầm lên. Nhưng chúng ta khai thác nhiều quá, tốc độ nhanh quá, trong khi nguồn nước bổ cập không kịp tới.
- Có giải pháp nào để nâng mực nước ngầm?
- Một số nhà khoa học đã nghiên cứu khả năng bổ cập nhân tạo cho nước ngầm ở mấy huyện ven biển Nam Trung Bộ. Tức là phải có giải pháp hợp lý để tích trữ nước trong mùa mưa và tăng cường khả năng thấm nước vào nơi có bồn nước ngầm, sau đó khi nào cần thì khai thác. Dự án này đang nghiên cứu và năm 2005 cho kết quả. Hiện nhiều nước như Thái Lan, Srilanca đã áp dụng giải pháp này và mang lại hiệu quả tốt.
- Vậy bao giờ giải pháp này được triển khai trong thực tế?
- Từ lúc nghiên cứu đến khi đưa ra mô hình hợp lý để bà con được hưởng lợi thì rất xa. Bản thân người dân trong khu vực đã có kinh nghiệm đúc rút từ lâu đời, đó là bàu nhân tạo. Từ chỗ thấy trâu bò thường tìm đến vùng có nguồn nước để nằm, người dân đã đào những bàu cát, để nước bốc hơi và đến đêm thì nước tích tụ, rỉ ra trong bàu.
Như Trang thực hiện
