![]() |
|
Cơn khát Ninh Phước. |
“Mất bao nhiêu công sức mới múc đầy được một gánh nước. Chỉ cần văng ra ngoài một chút nước thôi cũng là phải tội rất nhiều với trời, với đất”, chị Phương thở phào nói với VnExpress sau khi vượt qua đoạn đường gian truân nhất để đem nước về nhà. Rồi lặng lẽ quẩy gánh trên vai, chị thận trọng bước từng bước trên con đường liên xã bụi bặm đang nóng ran vì nắng trưa. Đi ngược hướng lại với chị một cô bé chừng 8-9 tuổi vội vã bước, tay xách theo 2 thùng nước trống rỗng.
Đã vài tháng nay trời không một giọt mưa, con suối chảy cạnh xã Nhị Hà hết nước. Đáy trơ ra toàn cát với đá. Kéo theo là việc mất nguồn nước sản xuất và sự hạn chế của nguồn nước sinh hoạt. Gia đình chị Phương và hơn 100 hộ dân nơi đây phải gánh chịu hậu quả khốc liệt của thiên nhiên. Đầu tiên là cái đói do mất mùa. Tiếp đến là cái “khát” do thiếu nước.
Anh Phạm Văn Trung, một người dân trong xã, buồn bã nói: “So với cái đói thì cái khát khốc liệt hơn nhiều. Không thể gieo trồng được thì có thể chuyển sang làm các nghề khác như chăn bò thuê, đi đốt than... Nếu không đủ ăn thì đã được huyện hỗ trợ 10 kg gạo/người. Còn khát thì phải hạn chế mọi thứ sinh hoạt có dính dáng tới nước. Ngay việc tắm rửa cũng thưa hơn, không còn như ngày trước".
Người dân ở xã Nhị Hà nhiều ngày qua lấy quần áo bẩn sau một ngày đi đốt than về rũ mạnh rồi phơi ra gió thay cho giặt. Bởi nước chỉ được ưu tiên dùng cho những nhu cầu thật sự cần thiết. Phương châm “dùng nước đong” tồn tại ở mọi nhà, với đơn vị tính là chiếc ca cỡ chừng 1 lít. Ví như việc tắm chỉ chừng 20 ca, giặt quần áo 30 ca…
![]() |
|
Múc từng gáo nước từ nguồn nước suối nóng duy nhất. |
Hiện nguồn nước sinh hoạt duy nhất của các hộ dân là từ con suối nước nóng, xuất hiện khi lòng suối lớn cạn kiệt. Đây chỉ là một mạch nước nhỏ, phun ri rỉ tạo thành một vũng rộng bằng cái mâm, đường kính khoảng 40 cm và sâu chừng 30 cm. Thời gian nước phun đầy một gánh nước mất khoảng 5-10 phút. Ở đây luôn có từ 7 đến 10 người xếp hàng chờ lấy nước.
Chị Nguyễn Thị Tường Thuỵ, một người dân Nhị Hà 2, cho biết: “Nhu cầu dùng nước sinh hoạt của gia đình 4 người chúng tôi đã giảm đến mức tối thiểu. Trung bình khoảng 30 lít nước/ngày/người. Thế nhưng, tôi đã phải huy động luân phiên 2 đứa con xếp hàng cả ngày mới đủ dùng”.
Khoảng cánh từ nhà chị Phương đến chỗ lấy nước chỉ chừng 200 m và việc quay lại lấy thêm một lần nước không khó. Nhưng chị vẫn khống chế mức nước sinh hoạt hằng ngày. Chị nói: “Tôi không ngại nắng, không ngại mất thời gian chờ đợi lấy nước, nhưng những thiếu thốn do hạn hán kéo dài đã cho tôi bài học là phải quý nước như vàng trắng. Càng ngày bài học này càng hằn sâu vào ý thức".
Dòng kênh của xã Nhị Hà 2 cạn trơ đáy.
Tuy nhiên, ngay chất lượng của nguồn nước suối này lại không tốt. Anh Đông Văn Long, người dân xã Nhị Hà 2, cho biết: “Nước ở đây có mùi khó chịu. Nếu muốn đun để uống thì phải phơi ngoài trời vài giờ cho lắng cặn và bớt mùi”. Cũng theo anh Long, khu vực Nhị Hà 2 không thể khoan giếng lấy nước, bởi khó xác định được nguồn nước và phải khoan xuống thật sâu cỡ chừng 30 m mới có mạch. “Cách đây 1 tháng, do không chịu được cảnh thiếu nước, tôi đã bỏ ra 2,5 triệu đồng để khoan 2 giếng với độ sâu 10 và 12 m nhưng đều không có giọt nào. Số tiền gia đình tiết kiệm nhiều năm đã không cánh mà bay. Đã nghèo nay lại càng nghèo thêm!”.Theo ông Bùi Văn Định, Phó giám đốc Công ty cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn Ninh Thuận, địa tầng của khu vực các xã Nhị Hà 1, 2 và 3 rất đặc biệt. Thứ tự theo từng con số của tên xã, độ cao của các xã tăng dần và lớp đá cuội, đá tảng ở tầng địa chất cũng dày thêm. Ví như ở xã Nhị Hà 2 độ dày của những lớp đá lên tới 30 m. Vì vậy, khoan giếng thủ công để lấy nước là điều không thể thực hiện được mà phải có máy khoan công nghiệp trợ giúp. “Chính vì điều này mà người dân ở đây không thể khai thác được nguồn nước ngầm, trong khi UBND huyện đã có chủ trương khuyến khích, hỗ trợ kinh phí khoan giếng”, ông cho biết.
Ông Định cho biết thêm, trước đây khu vực Nhị Hà “ăn nước” từ hồ Tân Giang. Nhưng đến nay hồ này đã cạn kiệt. Để có nước cho người dân sinh hoạt hiện chỉ trông chờ vào nguồn nước ngầm. “Việc khó khai thác nguồn nước ngầm đã làm cho khu vực này trở thành đáy của chảo lửa Ninh Phước”, ông Định nói.
Tuấn Dũng từ Ninh Thuận.

