![]() |
Một loài bọ nhảy. |
Trên các vùng đồi núi thấp ở độ cao trung bình 50-520 mét, thuộc xã Ngọc Thanh (huyện Mê Linh, Vĩnh Phúc), các nhà nghiên cứu của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (Trung tâm Khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia) phát hiện được 78 loài bọ nhảy thuộc 14 họ. Chúng sinh trưởng và phân bố không đồng đều trong 4 sinh cảnh khác nhau, gồm: rừng khoanh nuôi tái sinh, đất bỏ hoang có cây bụi sau đốt rừng, vườn đồi trồng cây ăn quả và đất canh tác trồng lúa màu…
Phân tích tỷ lệ loài trong sinh cảnh, các nhà nghiên cứu nhận thấy, có tới 92% trong số 78 loài này tập trung ở các rừng khoanh nuôi tái sinh, cao hơn 2 lần số loài ở những sinh cảnh còn lại. Thực tế, trị số đa dạng tại rừng tái sinh có giá trị cao nhất (3,09), trong khi đa đạng của đất canh tác thấp nhất (2,23). Nhà nghiên cứu Nguyễn Trí Tiến cho rằng, đó là vì đất canh tác phải trải qua sự biến động lớn. Vào cuối mùa khô, đầu mùa mưa, thời tiết nắng nóng kéo dài, độ ẩm thấp và đất rắn... rất bất lợi cho bọ nhảy sinh trưởng. Mặt khác, đây cũng là thời điểm thu hoạch cây trồng nên đất mất thảm thực vật, độ ẩm đất giảm, mất lớp vụn hữu cơ bề mặt..., ảnh hưởng xấu đến đời sống của chúng.
Xét theo độ sâu trên dưới của sinh cảnh, từ lớp thảm thực vật, xuống lớp thảm và trên mặt đất, số loài giảm dần từ sinh cảnh rừng khoanh nuôi - đất bỏ hoang - vườn đồi - đất canh tác. Ngược lại, xét theo số loài sống trong các tầng nông sâu của đất, thì đất canh tác có số lượng cá thể bọ nhảy lớn hơn cả. Ông Tiến lý giải đó là vì theo độ sâu, sự phân bố của bọ nhảy phụ thuộc vào hàm lượng mùn hữu cơ và tính chất lý, hoá của đất. Đất có lượng mùn vừa phải, tơi xốp, thông thoáng (như đất canh tác) sẽ tạo cho bọ nhảy khả năng di chuyển xuống tầng sâu tìm kiếm thức ăn nhanh hơn.
Các nhà nghiên cứu khẳng định, như vậy, có thể căn cứ vào sự tăng giảm thành phần và số lượng loài, tỷ lệ giữa các nhóm, độ đa dạng hay cấu trúc ưu thế của bọ nhảy để đánh giá được tác động của con người lên môi trường đất, cũng như chất lượng của nó.
(Theo Lao Động)