![]() |
|
Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến. |
- Tại sao anh lại chọn tựa đề cho tập thơ là " Những con ngựa đêm"?
- Tôi lấy tên bài thơ Những con ngựa đêm và trăng để làm tựa. Đây là một trong những bài thơ đáng chú ý, bởi nó đã mở ra một hướng viết mới trong cách tiếp cận đời sống ngôn ngữ thơ của tôi. Nói như nhà thơ Trúc Thông: "Làm gì có ngựa thật, đó là ảo giác thi sĩ vụt loé ở một khoảnh khắc quý hiếm đã được diễn tấu bằng một sự say sưa với tiết tấu như thế, sự chuyển động hình ảnh và dừng lại bất ngờ như thế. Những con ngựa đêm - tên tập thơ là một ẩn dụ mang tính tuyên ngôn của Nguyễn Việt Chiến về cách sáng tạo thơ theo lối của riêng anh. Nghĩa là được quyền tự do "mơ ngủ", nhập đồng liên tưởng như phi lý, ngôn từ nhiều khi như tự động rời khỏi ngòi bút, dẫn đi". Vậy có thể tạm nhận xét đây là một "lối chơi" ngôn ngữ mang dấu ấn phong cách thơ của tôi. Bài thơ Những con ngựa đêm và trăng phải đọc ở dạng nguyên bản, không cắt xén mới thấy được ý đồ nghệ thuật của tác giả.
- Hình tượng những chú ngựa đêm không mấy ngoan hiền lại được so sánh với hình tượng "em trong thơ anh". Cảm hứng ấy đến với anh như thế nào?
- Tại sao lại không thể so sánh hình tượng Ngựa đêm và Em được nhỉ? Bạn đừng đòi hỏi sự hợp lý khi đọc tập thơ này của tôi. Nhưng xin chú ý, trong bài thơ của tôi, hình tượng Em được nhắc tới ở cuối bài như một ánh trăng xanh và bạn hãy thử liên tưởng trên một cánh đồng đêm đầy sao ở đâu đó, thì vầng trăng đầu tháng cũng giống như một chú ngựa đêm đấy chứ! Nó đang ngẫm ngợi gì nhỉ? Chỉ có sao trời và các nhà thơ mới biết được thôi. Cảm hứng đã đến với tôi vào một đêm trăng để viết bài thơ này.
![]() |
|
Tác phẩm đoạt giải thưởng thơ của Hội nhà văn Hà Nội. |
- Trăng là hình ảnh dễ gặp nhất trong "Những con ngựa đêm", nó có gắn liền với một kỷ niệm nào đó của anh hay đó là một ám ảnh?
- Đã có một bạn yêu thơ "thống kê" trong tập Những con ngựa đêm có tới 200 từ "đêm" và "trăng". Với tôi, ánh trăng là sự cứu rỗi. Cuộc sống đời thường náo động và công việc làm báo cứa làm cho dây đàn "cảm xúc" của tôi căng hết lên (tới độ bất an!), khiến tôi phải "trốn" mình vào thiên nhiên, vào đêm yên tĩnh để có được khoảnh khắc một mình lặng lẽ đối diện với ánh trăng mà cảm nhận một cách cô đơn và thanh bình. Khi đối diện với thứ "ánh sáng" ấy, tôi nhìn thấy được mình như câu thơ này: "Trong cái sa mạc mênh mênh mông của bóng đêm/Còn sót lại duy nhất một giếng nước ngọt/Trăng - Thứ ánh sáng có thể uống được nhưng không dễ đem cho". Tôi đã lấy thơ làm sự cứu rỗi (ngoài "trăng") để cân bằng đời sống "công nghiệp" của thời hiện đại.
- Rất nhiều nhà thơ trẻ hiện có những cách tân nhưng không dễ chấp nhận, còn quan điểm của anh?
- Tôi cổ vũ mọi sự cách tân trong thơ hôm nay, nhưng không phải là sự cách tân dẫn chúng ta đến chỗ "bế tắc". Rõ ràng thế hệ mới phải tìm cho mình một phong cách nghệ thuật mới. Và vì từ lâu thơ ca đã được coi như một thứ nhạc cụ của tâm hồn, để tấu vọng lên nỗi đam mê khắc khoải của con người muốn tụng ca cái đẹp và chia sẻ với nỗi khổ đau mất mát của mỗi số phận. Thơ là cuộc đối thoại của con người với thời đại của mình, là sự thức tỉnh của những tâm trạng và tình cảm đang tự hoàn thiện bên trong mỗi con người. Nói theo Rít-Xốt: "Nếu công việc của nhà thơ có được một số giá trị nào đấy, thì những giá trị ấy biểu hiện ở chỗ - ta đã đi vào những đau khổ của kiếp người, để mang lại hy vọng cho mọi đớn đau. Thơ - đó là nền nghệ thuật chia sẻ với con người".
- Giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội năm 2004 có ý nghĩa đối với anh như thế nào?
- Một số người nói tôi có may mắn là hay được giải thưởng về thơ, nhưng ít người biết rằng tôi đã lặng lẽ làm thơ hơn 20 năm, không hề in ấn, để rồi tới ngày "xô cửa làng văn" bằng hàng chục kg bản thảo thơ. Giải thưởng văn học lần này đối với tôi có ý nghĩa lớn vì đây là giải thưởng trao cho một tập thơ, ghi nhận một phần nào sự đóng góp của tôi cho nền thơ đương đại.
Thu Hà thực hiện

