![]() |
|
Chị Y Chảy và Út Ni. |
Chị Y Chảy lấy từ trong chiếc hòm một tấm ảnh và bảo: “Hình của thằng A Trình chụp trên phố huyện đấy. Nó đang học lớp 8 Trường Dân tộc nội trú huyện Đắc Glây. Hồi mới đưa nó về chẳng ai dám nghĩ là nó sống được”.
A Trình là con của A Rang và Y Nghẻ ở làng Tà Poóc, xã Đắc Dục (huyện Ngọc Hồi). Không may sau khi A Trình chào đời giữa năm 1989, được hai ngày thì bà ngoại bị ốm nặng rồi chết, ông ngoại của Trình cứ khăng khăng: hai vợ chồng A Rang và Y Nghẻ phạm luật lấy nhau chưa đầy năm đã sinh con, do vậy A Trình chính là con ma đã làm chết vợ ông.
Ông nhất quyết phải giết con ma A Trình để trả thù và trừ hậu họa. Hội đồng già làng Tà Poóc họp và nhanh chóng đưa ra phương án giải quyết (có văn bản hẳn hoi): kiến nghị lên chủ tịch xã làm giấy cắt (giống như ly hôn) đối với vợ chồng A Rang và Y Nghẻ, đồng thời hoặc phải giết A Trình, hoặc đem bỏ vào rừng làm mồi cho thú dữ.
Thương con, A Rang bế A Trình bỏ làng ra đi. Nhưng hai cha con đi đến đâu cũng bị dân các làng xa lánh, đuổi như đuổi tà. Một buổi chiều, hai cha con đến ở nhờ trong nhà rông của làng Núi Kon, xã Đắc Môn (huyện Đắc Glây). Hơn một tuần lễ, đứa bé sơ sinh phải sống bằng nước củ mì (sắn) do cha nhổ trên rẫy nhai mớm cho.
Đúng hôm đó, chị Y Chảy đi đỡ đẻ cho một sản phụ ở làng Núi Kon này. Hay tin, chị lên nhà rông rồi giành lấy A Trình, lúc đó đã tím tái, không còn khóc thành tiếng được. Đem A Trình về, Y Chảy bế đi khắp làng xin sữa nhưng đến đâu cũng bị xa lánh, xua đuổi. Chị quyết định bán con bò, tài sản có giá trị nhất của gia đình, được hơn 1 triệu đồng để mua sữa và đồ dùng để nuôi A Trình.Hai mẹ con sống trong một ngôi nhà nhỏ ven làng Măng Lon. A Trình lớn lên, hiện đang học ở Trường Dân tộc nội trú huyện Đắc Glây. Bây giờ nó là niềm tự hào của làng Măng Lon, của cả xã Đắc Môn vì trong vùng này xưa nay hiếm có người học đến lớp 8 và được lên phố huyện học như nó.
Không chỉ có mình A Trình, chị Y Chảy còn cứu được U Ni vào một ngày tháng 6 năm 1999. Y Sương, người cùng làng Măng Lon, sau khi sinh được một ngày thì bị uốn ván chết. Người trong làng bàn với A Ban, cha đẻ của U Ni: “Phải bóp chết nó để chôn theo mẹ, hoặc bỏ vào rừng làm mồi cho thú rừng”.
A Ban đồng ý đem con bỏ vào rừng. Y Chảy có mặt kịp thời, phải giằng co, dọa dẫm: nếu không cho nhận U Ni thì sẽ báo công an huyện về tội giết người. Cuối cùng người làng cũng phải nhượng bộ để cho người đàn bà không sợ con ma rừng ấy đem U Ni về nuôi.
Sau U Ni là Y Ô Sin, đứa con thứ ba có nước da trắng hồng của người Kinh, con của chị T., một nữ công nhân Lâm trường Đắc Ba với một chàng họ “Sở”. Ngày chị T. trở dạ và được chị Y Chảy đỡ cho mẹ tròn con vuông. Khốn khổ thay, vì hận tình, hận đời người mẹ trẻ ấy cứ một mực đòi bóp mũi con cho chết rồi quẳng xuống suối. Y Chảy lặng lẽ quấn hài nhi còn đỏ hỏn ấy vào vạt áo mang về làm con của mình. Một lần nữa, chị phải bán con bò duy nhất nuôi trong mấy năm trời cùng chiếc máy khâu mới tậu được để lấy tiền mua sữa cho Y Ô Sin. Chị đặt tên cho cháu là Ô Sin để mong nó cũng sẽ giỏi giang như cô bé Ô Sin trong phim truyền hình của Nhật Bản.
Chị Y Chảy buồn buồn khi nói về đứa con thứ 4 không may mắn chết từ khi bắt đầu biết gọi mẹ. Mẹ của Y Trường sinh con được hơn hai tuần thì bị hậu sản chết. Người ta đang định chôn sống Y Trường theo mẹ thì chị lại có mặt kịp thời và xin được đem về nuôi. Được hơn 1 tuổi thì Y Trường phát bệnh da liễu do lây từ người mẹ quá cố. Y Chảy cật lực chữa chạy cho Y Trường nhưng kết cục cháu vẫn không sống được.
Cũng vì không sợ ma rừng, dám chống lại luật tục mà một thời gian dài gia đình chị bị người làng xa lánh, phải dời nhà ra rìa làng để sống. Y Chảy sinh năm 1947, từng tham gia hoạt động Cách mạng, làm liên lạc, đi thanh niên xung phong, làm dân công hỏa tuyến... Trong gia đình cả ba anh trai của chị đều hi sinh trong kháng chiến chống Mỹ. Lấy chồng, một lần sinh con nhưng không nuôi được. Có lẽ một phần vì điều ấy mà chị trút hết tất cả tình thương cho những đứa trẻ bị chối bỏ.
Chị đưa cho tôi xem quyển sổ ghi danh sách dài dằng dặc những người được chị đỡ đẻ mẹ tròn con vuông, không lấy tiền. Ngay cả việc làm bà đỡ cũng là chuyện tình cờ, từ việc nhìn thấy mấy chị hộ sinh làm rồi sau đó gặp trường hợp khó đẻ, thương quá, xông vào đỡ giúp và từ đó chị trở thành một bà đỡ bất đắc dĩ nhưng nổi tiếng mát tay ở những ngôi làng hẻo lánh, xa xôi.
Chưa ai thống kê được số trẻ sơ sinh bị chôn theo khi sản phụ tử vong ở vùng này. Trước chị Y Chảy, cũng chưa ai trong vùng dám cứu những đứa trẻ được gọi là ma rừng ấy đem về nuôi. Ông Kring K’Hông Nhá, Chủ tịch xã Đắc Môn, thú nhận với tôi rằng, không dưới một lần khi về làng vào ban đêm ông nghe tiếng trẻ con khóc đứt hơi bên những ngôi mộ mới nhưng không dám cứu. Ngay cả anh A Ngút, chồng chị Y Chảy, cũng từng nhiều lần dọa bỏ vợ vì sợ ma rừng, sợ hãi sự xa lánh của dân làng. Cuối cùng người chồng ấy cũng nhận thức được và cùng chị lo cho những “con ma rừng” trở thành con của mình.
(Theo Tuổi Trẻ)
