![]() |
|
Anh Nguyễn Trọng Hạnh. |
Thời còn bao cấp, Nguyễn Trọng Hạnh, trợ lý giám đốc kiêm tổng kho trưởng Công ty xuất nhập khẩu Ý Yên (Nam Định), lúc nào cũng canh cánh một nỗi không muốn phụ thuộc ai. Năm 1987 anh xin thôi việc, thu nhận công nhân và thành lập Công ty xây dựng Tiến Thắng. Công ty phá sản sau hai năm. Anh bảo: “Mình tính toán non tay nên phá sản lúc nào không biết”. Năm 1989, anh phát hiện mình đang nợ 120 triệu tiền mặt cộng thêm 60 lượng vàng.
Bao nhiêu khó khăn xảy đến: vợ mắc bệnh dính tắc ruột phải mổ, hai con còn nhỏ, nhà cửa đem gán nợ, cả nhà phải dựng lều ở tạm, chủ nợ ráo riết đến đòi. Dù thế, anh nhất quyết không chịu cầu cứu bố mình lúc ấy là giám đốc xưởng mây tre ép mỹ nghệ. Hai vợ chồng trông vào vốn liếng duy nhất là chiếc xe Zil 130 của Nga dùng để chở đất đá thuê.
Năm 1990, nợ cũ chưa xong anh “bập” vào một vụ làm ăn mới: kết bạn với một họa sĩ, hai người làm tượng phật giả cổ. Đang mốt sưu tập đồ giả cổ, một pho tượng đồng đúc đặc nhỏ bằng cổ tay giá vài triệu đồng. Dồn hết tiền bạc và tâm sức vào công việc, vừa học nghề vừa kinh doanh, đến năm 1996 thì vụ “tượng giả cổ” sập tiệm vì hết mốt, tượng ế. Nguyễn Trọng Hạnh thêm một lần nữa trắng tay vì nghề. Lòng không nản, anh quyết tâm bước tiếp với nghề đúc.
Tên gọi Hạnh “tượng” gắn chặt với Nguyễn Trọng Hạnh kể từ khi anh bắt đầu mở xưởng ở Nam Định (1991). Hạnh nghe ngóng hễ ở đâu có nghề đúc đồng truyền thống là tìm tới nơi, từ Ngũ Xã (Hà Nội), sang đến Bắc Ninh, vào làng Ba Chè (Thanh Hóa), rồi đến Huế. Anh mua một số bức tượng mẫu, vờ đặt thợ và nán lại xem cách họ thao tác rồi ghi nhớ làm vốn của riêng mình.
Khi đã luyện tay nghề chán chê với các bức tượng phật, Hạnh quyết tâm chinh phục tượng nghệ thuật. Anh kể: “Tôi thèm khát những bức tượng đẹp. Đến nhà ai chơi, thấy tượng nào đẹp tôi liền mượn về đúc thử”. Anh tự nguyện làm học trò, người đúc tượng thuê cho nhiều nhà điêu khắc như: Tạ Quang Bạo, Minh Đỉnh, Tạ Duy Đoán, Lê Liên, Nguyễn Chi Lăng, Kim Xuân... Hạnh còn học ở các di tích lịch sử, thấy ở đâu có nhiều hoa văn, đồ thờ đẹp, cổ kính, anh lưu lại cả tháng trời để tìm hiểu cho đến khi thuộc lòng. Nhờ thế, Hạnh “tượng” có tài đúc tượng hệt nguyên mẫu mà chỉ cần nhìn qua ảnh chụp.
Năm 2003, Công ty Mỹ thuật trung ương giao cho Nguyễn Trọng Hạnh đúc tượng đài “Chiến thắng Điện Biên” nặng 220 tấn, cao trên 12 m. Anh nhận và tự nhủ đó là trách nhiệm với đất nước, không thể không làm và cũng không được phép thất bại. Nỗi lo đè nặng tâm trí ngay từ khi chờ nhận mẫu thạch cao. Theo kế hoạch, 15/8/2003 nhận mẫu thạch cao, 5/4/2004 bàn giao tượng, nhưng mãi 15/9/2003 mới được nhận mẫu, anh Hạnh lo đến không ăn không ngủ vì sợ không đảm bảo tiến độ.
Đóng cửa xưởng đúc, nội bất xuất, ngoại bất nhập, trên 50 người thợ vào cuộc. Tượng quá lớn, không thể đúc khuôn liền, anh nghĩ cách cắt rời khuôn thành 12 khúc rồi đúc lần lượt. Tám lò nung, trên đặt bốn cái lù (nồi nấu đồng) lúc nào cũng sôi sùng sục. Nguyễn Trọng Hạnh đứng trên giàn giáo tay cầm loa chỉ huy. Bốn cần cẩu loại 25 tấn và 50 tấn đặt ở bốn góc khuôn, sẵn sàng chờ lệnh rót đồng.
Ngày đúc khúc đầu tiên (bệ chân), sự cố xảy ra do lái cẩu thiếu kinh nghiệm, lù được nhấc lên khỏi mặt đất chưa kịp rót vào khuôn thì cẩu bị quá tải bênh cả phần thân. Chín tấn đồng nấu chảy trên 1.000 độ C dội ào xuống. May mà không ai bị nạn. Sợ thót tim! Từ lần đó trở đi, mỗi lần rót đồng vào khuôn anh Hạnh đích thân lái cẩu. Căng thẳng nhất là đúc phần thân giữa (khúc cuối cùng và cũng là khúc to nhất), thời gian rơi đúng vào dịp mưa dầm trước Tết. Nung khuôn xong chưa kịp rót đồng thì trời mưa dai dẳng. Ai cũng sốt ruột lo làm không kịp. Anh Hạnh quyết định ăn ngủ ngay tại xưởng đúc để động viên anh em thợ.
Đêm đêm anh trở dậy thắp hương, vãi gạo, rắc muối ra sân cầu khẩn trời đất. Không biết có phải do trời thương hay không, chỉ biết sau khi trời tạnh, quên cả ăn Tết, Hạnh “tượng” động viên công nhân khẩn trương vào việc và đến 14/2 thì tượng đúc xong, đảm bảo đúng theo kế hoạch. Chủ thợ tạm thở phào nhẹ nhõm, coi như xong 70% công việc, 30% còn lại là lắp đặt và hoàn thiện.
Từ 23/2, 12 khúc tượng trên hành trình tới Điện Biên. Dù không được giao nhiệm vụ giám sát việc vận chuyển tượng, mặc cho vợ và đồng nghiệp can ngăn, anh Hạnh vẫn cương quyết lái xe riêng bám dính hành trình. “Con của mình thì mình phải theo”, anh giải thích. Trong suốt chuyến đi từ Nam Định lên Điện Biên kéo dài tám ngày, chỉ trừ lúc tượng xuống phà theo dọc sông Đà, không lúc nào người đàn ông này rời khỏi những khúc tượng. Ở mỗi chặng dừng chân, anh đến từng xe, chui vào bên trong kiểm tra từng cột chống, từng mối hàn cố định thân tượng. Đoàn lên đến Tuần Giáo (cách Điện Biên 80 km), anh ngủ luôn trên ôtô đỗ cạnh đoàn xe tải.
Lên đến Điện Biên ngày 1/3, không kịp tận hưởng niềm vui chào đón của bà con thành phố, anh phóng xe lên đồi D1 bố trí, cắt đặt công việc cho thợ. Ngày 12/4, sau 207 ngày làm việc ba ca liên tục kể từ khi đúc đến khi hoàn thiện, tượng đài “Chiến thắng Điện Biên” vững vàng choãi chân trên đỉnh đồi từ độ cao trên 13m (chưa kể bệ) bao quát toàn bộ thành phố. Nhiệm vụ được giao coi như đã hoàn thành 100%.
Hạnh "tượng" tâm sự: “Làm nghề này cần có hai yếu tố. Một là đừng nghĩ quá nhiều đến tiền. Tôi có kinh nghiệm rồi, cứ tính lãi trước là y như rằng đúc hỏng. Hai là phải hết sức yêu nghề”. Rồi anh tự lấy ví dụ năm 1996, lần đầu nhận hợp đồng với Công ty Mỹ thuật trung ương đúc trống đồng đường kính 1,6 m trưng bày tại đền Hùng, Phú Thọ. Đúc 3 lần mới xong, vài triệu đồng tiền công không đủ mua nguyên liệu. Lần khác nhận đúc 3 quả chuông, mỗi quả nặng 5 tạ cho một ngôi chùa ở Bắc Ninh. 2 trong số 3 quả chuông phải đúc đi đúc lại ba lần. Đồng nấu xong rót đầy đến miệng khuôn rồi khuôn nổ cái “bụp”, đồng chảy ra hết, lỗ nặng, nhưng vẫn phải đúc cho xong.
Lòng đam mê với nghề cộng với đức tính kiên trì sẵn có, Nguyễn Trọng Hạnh đã tạo cho mình một thành tích đáng nể: có trong tay khoảng 20 tỷ đồng, đúc gần 4.000 pho tượng lớn nhỏ.
(Theo Tuổi Trẻ)
