“Bán cá” là từ chị dùng nôm na, đúng ra là xuất khẩu thủy sản. Người đàn bà thông minh, đầy bản lĩnh và có duyên thầm ấy vốn là kỹ sư hóa sinh Nguyễn Thị Thu Sắc, nay trở thành Tổng giám đốc Công ty TNHH Hải Nam. Năm ngoái, Hải Nam đã xuất khẩu lượng hải sản trị giá 22 triệu USD, chưa kể tiêu thụ trong nước.
Năm 1982, với sự giúp đỡ tài chính của bố mẹ, anh em, chị Sắc bắt đầu mua, chế biến hải sản và cung ứng hàng cho các công ty xuất khẩu. Thời ấy, tư nhân chưa được tham gia xuất khẩu trực tiếp. Chị vừa làm vừa học. Kinh doanh cần nhạy bén, chịu khó và kiên trì, cả ba đức tính đó chị đều không thiếu. Còn học, chị học rất nhanh nhờ có sẵn kiến thức ngành hóa sinh.
“Một trong những mặt hàng chúng tôi đã sản xuất nhiều năm qua là vi cá. Đây là món ăn của người Trung Quốc, họ mua hàng nhưng đâu có chỉ cách chế biến cho mình. Tôi tự học, tự tay chặt vi cá. Vi cá là vây con cá mập, cá sặt. Làm sao lột da an toàn, lấy vây ra đẹp đều đòi hỏi sự cần mẫn. Có bữa buồn ngủ quá, tôi chặt nhằm vào tay”, chị kể.
Những năm 1987-1988 đất nước mở cửa, các công ty tư nhân ra đời, được làm xuất nhập khẩu. Công ty Hải Nam là một trong những doanh nghiệp dân doanh đầu tiên của TP HCM. Chị lần mò đi tìm khách hàng, trực tiếp xuất khẩu những container hải sản chế biến. Lúc đầu chị tham gia các hội chợ quốc tế, tìm khách hàng và cả những mặt hàng mới của nước ngoài về nghiên cứu. Sau này công ty tiếp cận khách hàng trên mạng và hiện nay thì không có đủ hàng để bán.
Trong chiến lược khách hàng - thị trường, Hải Nam có con đường riêng. “Chúng tôi sàng lọc người mua và hướng đến những thị trường mới mà hải sản Việt Nam chưa có mặt hoặc chưa xuất nhiều như Israel. Đó thực sự là những thị trường béo bở”, chị Sắc “bật mí”.
Người đàn bà lanh lẹ này cho biết khi việc đánh bắt hải sản ở Việt Nam gặp khó khăn hơn do một số loài cá đã cạn kiệt vì khai thác bừa bãi, Công ty Hải Nam lên chương trình mua nguyên liệu ở châu Phi. Thế là chị lên đường đi lục địa đen. “Đối tác làm ăn của chúng tôi đã có một xưởng sản xuất ở châu Phi. Nhưng chúng tôi quyết định không mở xưởng ở đó, mà mua nguyên liệu về chế biến. Người dân châu Phi có thói quen làm việc kiếm đủ tiền là nghỉ, nên khó thuê mướn nhân công làm ba ca. Hơn nữa nguyên liệu hải sản về đến nhà máy là phải chế biến ngay. Khi đó nếu công nhân không chịu làm nữa, biết xoay sở thế nào?”.
Giờ thì chị đã có hai nhà máy chế biến ở Phan Thiết, một phân xưởng ở TP HCM, một liên doanh với Nhật về nuôi trồng, chế biến hải sản. Chị thường xuyên đi biển, ra đảo, bày cho ngư dân cách làm hải sâm. 90% trọng lượng của hải sâm là nước, khi bắt được, phải lấy nội tạng ra làm liền. Đấy là kinh nghiệm của những người mê nghề.
Chị mê cá, tôm, cua, ốc đến nỗi suốt ngày không rời công việc. Có bữa nhớ con quá, mười giờ đêm, chị lên xe về Sài Gòn, ngắm nhìn con, ngủ với chúng vài tiếng, sớm hôm sau lại quay ra Bình Thuận. Thậm chí, có lần do bận việc quá, suốt mấy ngày liền không về thăm nhà nên chồng chị giận, mang luôn hai đứa con sang Mỹ. Đến nước đó thì chị đành bỏ việc, tức tốc qua Mỹ, nài nỉ chồng đưa con về. Thương vợ và bị chị thuyết phục, anh không những về, mà còn phụ chị kinh doanh.
Những đối tác làm ăn thường nhận xét chị có khiếu kinh doanh, nhìn đâu cũng tìm ra ý tưởng làm ăn được. Nhưng chị nói, chị chưa bao giờ nghĩ kinh doanh là chuyện riêng. Chị thành thực: “Gánh hát giàu phải nhờ đào, nhờ kép. Công ty ăn nên làm ra phải nhờ đến nhiều yếu tố khác cộng lại như khách hàng, công nhân, ngân hàng cho vay vốn, anh chị em trong gia đình đồng lòng đồng sức”.
Song có lẽ ấn tượng nhất ở người đàn bà bán cá này là dù ngồi ở văn phòng hay ngoài biển khơi, vẫn kiểm soát được trong kho còn bao nhiêu hàng loại gì; cá tôm nguyên liệu đầu vào giá bao nhiêu, đầu ra giá thành bao nhiêu. Nếu giá thành đầu ra cao quá thì phải giảm bao nhiêu cho hợp lý, bán cho khách hàng nào, nước nào, thu tiền ngay hay trả chậm thì có lợi nhất.
(Theo TBKTSG)