Nguyễn Đăng Điệp -
1. Phải nói ngay rằng, trong nghệ thuật, không phải cái mới nào cũng hay, nhưng chắc chắn, cái hay nào cũng mới. Tìm đến cái mới là khát vọng của bất cứ nhà thơ nào. Nói đúng hơn, nó vừa là một khát vọng, nhưng cũng là ách nặng đặt lên vai người nghệ sĩ trong hành trình sáng tạo không mệt mỏi của họ. Bởi lẽ, ngay cả những cây bút tài năng nhất, không phải bài thơ nào của họ cũng mới. Càng không phải bài thơ nào của họ cũng hay. Mỗi một thời đại thơ ca, biết làm thế nào được, số người làm thơ rất đông nhưng số thi sĩ trụ được với thời gian lại rất ít. Cũ thì đương nhiên bị loại bỏ. Còn mới? Không phải cái mới nào cũng được chấp nhận. Có những cái mới bị đào thải và có những cái mới sống mãi với thời gian. Hóa ra, việc làm mới thơ ca không hề đơn giản. Có những cái mới cốt làm hoa mắt độc giả, nhưng sau khi đọc xong bài thơ, thậm chí, phải cần đến một thời gian sau, người ta mới nhận ra đó là cái mới giả. Còn có những cái mới thoạt đầu, rất ít người thừa nhận, nhưng dần theo thời gian, càng ngày người ta càng nhận thấy những lớp hào quang ẩn chứa bên trong. Đó là cái mới thật.
2. Vậy thế nào là mới, và cái mới nào là cái mới mang tính chất của một giá trị đích thực? Không ít người cho rằng, cứ phải tạo nên những cách nói gây sự hiếu kỳ, đưa những loại ngôn ngữ táo tợn nhất vào thơ thì thơ mình sẽ mới. Đó chỉ là sự hoang tưởng, hay ít nhất là một cái nhìn nông cạn. Làm sao cái mới lại có thể được sinh ra một cách đơn giản đến thế, trong khi, từ cái nhìn triết học, cái mới được hiểu như là cái "trước đó chưa từng có" kia mà!... Tôi nghĩ, cái mới trong thơ trước hết nằm ở cách quan niệm mới của nhà thơ, ở khả năng đổi mới cảm xúc và chiều sâu lý giải thế giới. Không ít người bĩu môi, rằng, ai chẳng biết điều đó, nó xưa như trái đất rồi. Nhưng (lại nhưng), biết làm thế nào, chân lý thường nằm ở những điều giản dị (chứ không phải giản đơn). Vấn đề nằm ở chỗ, để xác lập được quan niệm nghệ thuật riêng là cả một quá trình, một cái nhìn mang tính hệ thống. Nó là cái nhìn của tôi chứ không phải của ai khác. Khi Mộng Liên Đường chủ nhân nói về "con mắt nhìn thấu sáu cõi" của Nguyễn Du, thực chất, ông đã nói lên chiều sâu quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Du. Cái mới không tự dưng mà có, không trông đợi ở những phép màu của Chúa, nó xuất phát từ khả năng thấu thị thế giới của nhà thơ, nó hiện hình trong sự lao động chữ. Trong quá trình lao động và suy ngẫm, người làm thơ bắt gặp sự thăng hoa và chính trong sự thăng hoa đến ngây ngất, họ bắt gặp phút "giời cho". Muốn có phút "giời cho" thì phải trải qua những phút "giời đày". Theo ý tôi, chỉ trong những phút giời cho ấy, người làm thơ mới mong có được những tác phẩm nghệ thuật đích thực. Tại đấy, tư tưởng và cảm xúc hòa nhuyễn làm một, tự nó sẽ tìm ra phương cách biểu hiện. Nói đúng hơn, bí ẩn của thơ ca giống như bí ẩn sinh tạo thế giới, hồn nằm trong xác và xác ngụ trong hồn. Và trong sự chuyển hóa với vận tốc cực lớn của quá trình sinh tạo, trong cường độ cảm hứng mãnh liệt, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và cảm xúc không phải là mối quan hệ kiểu bình (hình thức) và rượu (nội dung) mà bản thân ngôn ngữ có thể làm nảy sinh tư tưởng. Đúng thế, ngôn ngữ có đủ năng lực kỳ diệu ấy nếu nó là lời của một kiệt tác. Bởi thế, tôi không mấy tin rằng, những người định dùng trí thông minh và kỹ xảo ngôn ngữ sẽ là những người có khả năng đối mới. Thông minh trong thơ là sự thông minh của con tim, là trí tuệ được thắp lên từ cảm xúc. Nếu không có điều đó, thơ ca sẽ không còn là chính nó nữa. Cùng lắm, nó chỉ là những món trang kim đánh lừa những người nông nổi.
3. Mới thường đi liền với lạ, vì như đã nói, cái mới là cái chưa từng có trong lịch sử. Tại đây, nhà thơ có thể tạo nên những cấu trúc văn bản sao cho việc thể hiện những xúc cảm của mình diễn ra một cách chính xác và nhuần nhị nhất. Tuy nhiên, những yếu tố lạ trong thơ cần phải trở thành những yếu tố thẩm mỹ thì mới có hiệu quả. Một số cây bút ngỡ rằng việc kéo dài câu thơ, cách ngắt nhịp lạ sẽ là dấu hiệu nói về sự mới mẻ trong thơ. Nói thế đúng nhưng chưa đủ. Vì rằng Baudelaire đã từng chủ trương thơ văn xuôi cách đây mấy thế kỷ, Apollinaire đã từng sử dụng thơ thị giác. Vậy nên, những thay đổi về hình thức phải gắn chặt với thay đổi quan niệm nghệ thuật. Trước đây có lần Marx khẳng định: "Cái tôi có chỉ là hình thức". Nhưng cần phải hiểu rằng, đó là hình thức của cái nhìn chứ không phải hình thức chỉ để mà... hình thức! Bản thân các nhà Hình thức Nga, thoạt đầu, trong các công trình của họ toát lên một quan niệm: hình thức là tất cả. Nhưng sau đó, chính R. Jacobson đã thừa nhận, thiếu sót lớn nhất của các nhà Hình thức Nga là họ quá nhấn mạnh đến tính tự trị của văn học mà chưa chú ý đến mối quan hệ giữa thơ ca và đời sống. Tại đây, R. Jacobson đã nói đến một vấn đề sinh tử của nghệ thuật: Rằng, chỉ một khi những rung cảm cá nhân của nhà thơ gặp gỡ với những ba động của thời đại thì thì mới có những tác phẩm xuất sắc. Còn nhớ, khi nói về Tống biệt hành của Thâm Tâm, Hoài Thanh đã nhận xét rất tinh: bài thơ đã nói lên được "cái bâng khuâng khó hiểu của thời đại". Thơ Việt Nam thế kỷ XX cho thấy rất rõ điều này: khi tâm hồn nhà thơ có sự cộng hưởng với nhiều nỗi niềm của thời đại thì mới có thơ hay. Thơ Tố Hữu sở dĩ được nhiều người nhớ vì ông đã "diễn dịch" được tâm hồn dân tộc trong cuộc tranh đấu giải phóng đất nước. Thơ ca thời chống Pháp và chống Mỹ đi vào tâm hồn của nhiều người bởi các nhà thơ đã nói lên được vẻ đẹp của người Việt Nam thời chiến tranh. So với thơ ca trước 1975, thơ ca thời hậu chiến có những thay đổi đáng kể về quan niệm nghệ thuật. Thơ đa dạng hơn về giọng điệu, về phong cách nghệ thuật, những nỗ lực hiện đại thơ cũng diễn ra quyết liệt hơn, mạnh mẽ hơn. Đã xuất hiện nhiều cách nói mới, nhiều giọng điệu lạ. Đó là những dấu hiệu đáng mừng. Nhưng từ mới, lạ đến hay, như đã nói, bao giờ cũng là một khoảng cách. Thế hệ trẻ ngày nay thông minh, táo bạo, văn hóa cao, nhưng rõ ràng việc có được những kết tinh nghệ thuật thực sự vẫn là ngóng đợi của nhiều người.
4. Cái mới nào rồi cũng bị cái mới hơn thay thế. Trong trường hợp ấy, cái mới hôm nay cũng sẽ trở thành truyền thống nếu đặt nó trong tương quan với ngày mai. Nhưng dù vậy, một khi đã là những giá trị nghệ thuật đích thực, ánh sáng của nó còn tỏa sáng đến muôn sau. Nếu hiểu như thế ta sẽ thấy, lịch sử thơ ca là cuộc chạy tiếp sức của nhiều thế hệ, và Nguyễn Trãi, Nguyễn Du... vẫn có mặt trong đời sống tinh thần của người hiện đại. Thế hệ trẻ ngày nay vẫn rung động trước những vần thơ thời kháng chiến. Không nên quá lo lắng cho số phận của thơ, mà vấn đề đáng chú ý hơn là làm sao để có nhiều cái mới trong thơ, làm sao để thơ ta phải hay hơn nữa. Số phận của thơ nằm ở đấy.
Ngày nay, khi chúng ta mở cửa giao lưu văn hóa rộng rãi với thế giới, vấn đề đặt ra là thơ chúng ta nằm ở vị trí nào trên bản đồ thơ ca nhân loại. Đặt trong tương quan ấy, ta sẽ nhận ra mình một cách rõ hơn. Tại đây, việc tạo nên cái mới đòi hỏi các nhà thơ phải xử lý được mối tương quan hai chiều: một mặt, thơ Việt Nam cần tiếp cận mạnh mẽ hơn với những tinh hoa văn học nhân loại, mặt khác, phải giữ được bản sắc, hồn vía dân tộc trong thơ. Đó là sự kết hợp giữa yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh trong chiến lược phát triển văn hóa. Nếu chỉ biết vọng ngoại một cách thái quá, chúng ta rất dễ rơi vào sự vong bản về văn hóa. Nhưng nếu chỉ biết "tắm ao nhà" và làm ngơ trước những biến đổi nghệ thuật của thế giới, ta lại rất dễ rơi vào tình trạng bản, vị hẹp hòi. Cả hai hướng đi này, dù có vẻ ngược chiều nhau, nhưng lại có chung một kết cục: tạo nên sự tụt hậu trong thơ. Tuy nhiên, không mấy ai ngay từ đầu đã tạo ra cái mới khiến thiên hạ tâm phục khẩu phục. Rất có thể, họ phải đi qua những thử nghiệm dang dở. Vì thế, cần tạo ra một bầu không khí dân chủ, tôn trọng và trân trọng trong sáng tạo nghệ thuật.
5. Vào những năm đầu tiên của thiên niên kỷ thứ ba, một sinh hoạt văn hóa mới ra đời: Ngày thơ Việt Nam. Thực ra, đây là sự mở rộng hơn về quy mô của một mô hình văn hóa vốn đã từng xuất hiện trước đây: Buổi diễn thuyết khách đông như hội - Kỳ bình văn khách tới như mưa. Có thể nói, Ngày thơ Việt Nam vừa là cuộc biểu dương lực lượng, vừa là ngày chúng ta gặp gỡ và tôn vinh các giá trị thơ ca. Đó là một sự kiện văn hóa để ta thấy rõ hơn thơ vẫn "thanh tân", vẫn được yêu mến trong thời buổi kinh tế thị trường, trong sự bùng nổ của các phương tiện thông tin đại chúng. Thật thú vị, người yêu thơ có dịp nhìn thấy các thế hệ thi sĩ quần tụ bên nhau, giao lưu, trao đổi, luận bàn, đọc cho nhau những bài thơ mới viết. Tất nhiên, không ai nghĩ rằng, đến với ngày thơ, mình sẽ rút ra được những kinh nghiệm nghệ thuật, những bí quyết nào đó để có thơ hay. Nhưng, với những ai coi thơ như một niềm hạnh phúc, có ý thức cách tân để tạo nên cái mới thì Ngày thơ rất có thể sẽ là một cú hích sáng tạo. Sau cú hích ấy, biết đâu họ lại chẳng tạo nên sự bứt phá để tạo nên cái mới trong thơ.
Tác giả đọc tham luận này ở Văn Miếu Quốc Tử Giám, nhân Ngày Thơ lần thứ II, 5/2/2004