Đoàn Tử Huyến -
Cùng với Ổ quỷ ra đời trước đó và Trái tim chó viết sau, Những quả trứng định mệnh được xếp vào bộ ba truyện giả tưởng - hài hước của ông. Tác phẩm ra đời gây sự chú ý của dư luận, tạo ra những cuộc tranh cãi gay gắt và kéo dài. Phần nhiều các nhà văn sáng tác đánh giá cao thiên truyện này. M. Gorky khuyên mọi người tìm đọc, ông viết trong một bức thư: "Tôi rất thích Bulgakov, rất thích, nhưng anh này làm kết thúc câu chuyện dở. Cuộc tấn công của lũ rắn về Matxcơva không được tận dụng, mà anh nghĩ xem, đó là một cảnh hay khủng khiếp ngần nào!" [7].
Nhân vật chính của Những quả trứng định mệnh là nhà động vật học thiên tài Persicov, ông phát minh ra một tia sáng đỏ kỳ diệu có tác dụng kích thích sự phát triển và sinh sản của các loại sinh vật bậc thấp. Nhưng chưa được nghiên cứu và kiểm nghiệm, cái phát minh vĩ đại đó trong tay những kẻ thừa nhiệt tình hành động nhưng vô học đã biến thành tai họa khủng khiếp: đáng lý làm nở ra những con gà cho nước cộng hoà vừa bị nạn dịch hủy diệt thì lại sinh ra vô vàn những đàn rắn và cá sấu khổng lồ suýt nữa tàn phá tất cả các làng mạc và thành phố. Sự nóng vội duy ý chí, bất chấp mọi tri thức khoa học và kinh nghiệm lịch sử, chỉ căn cứ đơn thuần vào các động cơ chính trị và xã hội, không chỉ khiến cho đất nước rơi vào thảm họa mà còn là nguyên nhân giết chết thiên tài. Một phát minh kỳ diệu bị cưỡng đoạt không thể mang lại điều tốt đẹp mà có thể trở thành định mệnh tai hại.
Trái tim chó được viết liền sau đấy và cùng nằm trong mạch nguồn ý tưởng nghệ thuật với Những quả trứng định mệnh.
Nhà bác học xuất chúng Preobrajenski qua thí nghiệm kết hợp thể xác chó hoang với tuyến yên não của người đã tạo ra một sinh vật biết sử dụng ngôn ngữ người. Ông hy vọng biến cải được nó thành người có trí tuệ. Nhưng vừa có được chỗ đứng trong cộng đồng người, cái sinh vật đó đã trở thành một mối nguy hiểm đe dọa ngay cả người tạo ra nó, và sai lầm cơ bản của thí nghiệm là ở chỗ không phải nhà bác học đã cấy não của loài người nói chung vào cơ thể chó, mà là não của một con người cụ thể Klim Trugunkin, một kẻ vô sản lưu manh chuyên trộm cắp, rượu chè, dối trá. Cho nên Sarikov, cái sinh vật đã tiếp thu "ý thức" của Klim, không phải là đại diện cho loài người nói chung. Ở hắn cũng không có gì chung với giai cấp vô sản, cái nguồn gốc xuất thân mà hắn phô ra để đòi hỏi các đặc quyền đặc lợi. Hắn chỉ là điển hình tập trung những gì xấu xa, thấp hèn trong cái gọi là tầng lớp vô sản lưu manh, của cái phần bản năng tối tăm trụy lạc trong cuộc sống quần chúng nhân dân. Cách mạng đã giải phóng những khả năng sáng tạo kỳ diệu của người lao động nhưng đồng thời cũng kích thích dậy những bản năng thấp hèn đó, chúng có khả năng tha hoá, phá hoại, thậm chí giết chết các lý tưởng cách mạng. Bằng phép mầu của mình, Philip Philippovich trao cho Sarikov cái thành tựu vĩ đại nhất của tiến hoá, cái công cụ lợi hại nhất mà loài người có được là khả năng sử dụng ngôn ngữ, thì hắn lại dùng nó để làm những điều đốn mạt nhất - chửi rủa, dối trá, vu khống, đòi hỏi, và trốn tránh nghĩa vụ. Trái tim chó, được viết vào đầu thế kỷ, cho thấy sự sáng suốt, tỉnh táo và dũng cảm của tác giả đã sớm nhìn ra, cảnh báo về nguy cơ Sarikov, một dạng ngưười có trái tim chó, hay nói đúng hơn, một loại người mang tâm lý chó vốn không quá hiếm trong cuộc đời xung quanh.
Đối lập với Sarikov trong Trái tim chó là giáo sư Preobrajenski, nhân vật rất gần gũi với tác giả và thông qua ông, nhà văn phát biểu nhiều quan điểm tâm đắc của chính mình. Ở hình tượng nhà bác học này, tác giả đặt ra một vấn đề mà càng ngày, cùng với sự phát triển vũ bão của khoa học và công nghệ, càng có ý nghĩa thời sự cấp bách: trách nhiệm của nhà khoa học đối với các phát minh của mình. Mỗi một tìm tòi, mỗi một phát minh khoa học đều phải đặt dưới sự kiểm soát của trách nhiệm đạo đức của nhà bác học; nếu phát minh đó vượt ra ngoài sự kiểm soát thì nó sẽ đe dọa sự tồn tại các giá trị đạo đức mà loài người đã tạo nên, đe dọa cả chính người đã sinh ra nó và cả sự tồn tại nói chung của nền văn minh nhân loại.
Đỉnh cao trong sáng tác của Bulgakov là tiểu thuyết Nghệ Nhân và Margarita.
Trong di sản văn học nhân loại không ít những tác phẩm để đến được bạn đọc phải trải qua bao gian truân, tốn bao công sức, nhưng một số phận như Nghệ Nhân và Margarita quả thật hiếm có. Được viết trong mười hai năm, bắt đầu từ năm 1928 với cái tên dự định là Tiểu thuyết về quỷ sứ, bị xé, bị đốt, viết đi viết lại bảy lần; cho đến năm 1940 nằm trên giường bệnh, mắt lòa, Bulgakov vẫn đọc cho vợ sửa chữa. Sau khi nhà văn qua đời, người vợ tận tụy là Elena Sergheevna Bulgakova cùng bạn bè và những người hâm mộ ông sau hơn một phần tư thế kỷ chạy vạy mới công bố được tác phẩm bị cắt xén "một cách man rợ" (lời của tiến sĩ Laksin, nhà nghiên cứu Bulgakov hàng đầu ở Nga) trên tờ tạp chí Matxcơva. Nhưng ngay ở dạng lược bỏ này cuốn tiểu thuyết cũng gây nên chấn động lớn; nhiều người đã tìm cách đánh máy, thậm chí chép tay những đoạn bị cắt bỏ, tỉ mỉ dán thêm vào các trang tạp chí để có được trọn vẹn tác phẩm - hiện nay nhiều tủ sách gia đình ở Nga còn lưu giữ những "ấn phẩm" dày cộm đó mà K. Simonov gọi là "chứng liệu của thời đại". Năm 1973, Nghệ Nhân và Margarita lần đầu tiên xuất bản đầy đủ bằng tiếng Nga, và lập tức được dịch ra tiếng Anh ở Anh và Mỹ (ở Mỹ in hai bản dịch in cùng một lúc); tiếng Pháp ở Pháp và Thụy Sĩ; tiếng Hy Lạp in ba lần hai bản dịch. Rồi tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản, Đức, Rumani... Cho đến năm 1975, ở Budapest ra liên tiếp bốn lần (1969, 1970, 1971, 1975)... Được nhiều lần đưa lên sân khấu (kịch nói, nhạc kịch) ở Matxcơva và nhiều nước khác; được nhiều lần dựng thành phim truyện, phim truyền hình. Khắp nơi bùng nổ những cuộc tranh luận về chủ đề tư tưởng, về thi pháp, hình tượng nhân vật của tác phẩm. Ở Nga và nước ngoài lần lượt xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu lớn về cuốn tiểu thuyết. Người ta nhận thấy rằng, đây là một miền đất vô tận cho các khám phá, càng khám phá bao nhiêu càng xuất hiện thêm nhiều vấn đề hấp dẫn và bí ẩn bấy nhiêu.
![]() |
Trang bìa cuốn Nghệ Nhân và Margarita. |
Cái hấp dẫn và bí ẩn trước hết nằm trong sự độc đáo, phức tạp và mới mẻ của tác phẩm. Theo lời K. Simonov, trong Bulgakov có "ba tài năng" cùng song hành suốt đời tranh đoạt nhau vị trí số một, đó là "tài năng của nhà văn trào phúng, tài năng của nhà văn giả tưởng và tài năng của nhà văn hiện thực", cả ba tài năng đó đều đã thể hiện ngoạn mục trong những tác phẩm trước đấy, nhưng chỉ trong Nghệ Nhân và Margarita mới đạt đến đỉnh cao tuyệt diệu; và, vẫn theo lời Simonov, đây là một trong những cuốn sách "không để cho ta được yên, đọc nó mỗi người thích một cách"[8]. Chúng ta có thể xếp Nghệ Nhân và Margarita vào các loại: tiểu thuyết triết học, tiểu thuyết trào phúng, tiểu thuyết giả tưởng, tất nhiên, cả tiểu thuyết hiện thực... Các sự kiện được đưa vào tác phẩm rất đa dạng, nhiều tầng nhiều lớp, các tuyến nhân vật, chủ đề đan chéo, tương nhập và phản chuyển lẫn nhau; nhưng để đơn giản hóa, tiện cho việc tìm hiểu các chủ đề tư tưởng, chúng tôi xin tạm dừng lại ở một số "nhóm sự kiện" dưới đây:
Nhóm thứ nhất bao gồm những sự kiện, những hiện tượng là đối tượng trào phúng của ngòi bút Bulgakov, tạo thành mặt cắt "hiện đại" của tác phẩm. Các sự kiện này xảy ra trong một không - thời gian cụ thể, hiện thực với người đọc ngày nay - thành phố Matxcơva những năm 1920-30, thời kỳ sau Chính sách kinh tế mới. Đó là đám khán giả tự nguyện phô bày sự hám khát lối sống phè phỡn, tham lam, trụy lạc trong buổi biểu diễn ảo thuật tại nhà hát Tạp Kĩ; đó là "giới văn chương" bất tài, giả dối, luôn ghen ghét độc địa lẫn nhau, với những Riukhin ban ngày viết vài câu thơ khẩu hiệu để mang danh nhà thơ vô sản, còn đêm đến quay cuồng cuộc truy hoan trong các tiệm ăn lừng danh thủ đô; đó là ngôi nhà 302 bis phố Sadovaia với bao chuyện kỳ quái cùng ông Chủ tịch Hội đồng nhà cửa Nikanor Ivanovich thiển cận, ăn hối lộ. Rồi ban phụ trách nhà hát Tạp Kĩ, cửa hàng dành cho người nước ngoài, ủy ban biểu diễn... Trào phúng của M. Bulgakov không chỉ gay gắt ở thái độ thể hiện, mà còn rất thâm trầm. Một bộ comple không người thản nhiên ngồi trong ghế bành ký các giấy tờ, quyết định một cách chính xác, chuẩn mực không kém gì ông Chủ nhiệm vẫn ngồi trong bộ quần áo đó. Một cơ quan có ông thủ trưởng chỉ chăm chăm tổ chức các hoạt động xã hội, bắt nhân viên tập hát tập thể, và thật lạ lùng: mặc dù phải hát trái với ý muốn của mình, mặc dù mỗi người ở các vị trí khác nhau, nhưng tất cả vẫn hát rất đều, dường như dưới một cây gậy chỉ huy vô hình đầy quyền lực...
Nhưng phức tạp hơn, sâu sắc hơn, với tư cách một đối tượng trào phúng của Bulgakov, là hình tượng Berlioz, Chủ tịch Hội nhà văn Matxcơva, Tổng biên tập tờ tạp chí lớn, đọc nhiều biết rộng, vẻ ngoài hiền lành, lịch sự, dưới ngòi bút của Bulgakov, ông ta hiện lên thành một hiện tượng xã hội đáng sợ. Với tư cách là người "lãnh đạo" văn học, chính ông ta đã góp phần biến văn học thành thứ nghệ thuật khẩu hiệu thô thiển kiểu thơ Riukhin, đã dung túng, khuyến khích các nhà phê bình đồ tể kiểu Latunski, Ariman và lũ chỉ điểm, vu khống Aloyzi Mogarưt. Bản thân ông ta là người "cuộc đời được xếp đặt từ trước đến nay vốn không quen với những chuyện khác thường", tuyên truyền cho cái học thuyết "sau khi đầu bị cắt, cuộc sống con người cũng chấm dứt, con người biến thành tro bụi và đi vào cõi vô sinh". Thực chất đó là thái độ tự mãn duy lý mang danh "duy vật", toan tính "lên kế hoạch" và "điều hành" mọi hình thức của cuộc sống, phủ nhận một cách mù quáng, thô bạo và ngu dốt tất cả những gì không nằm trong một công thức sơ lược đưa từ trên xuống. Berlioz đòi Bezdomnưi phải chứng minh rằng không hề có Jesus, nghĩa là mục đích của Berlioz không phải phê phán, mà xóa bỏ các giá trị đạo đức và thẩm mỹ truyền thống nhân loại đã đạt được qua quá trình phát triển. Trong sáng tác của mình, Bulgakov quyết liệt chống cái học thuyết giáo điều, thực chất là ngu dân đó, bởi vì nó làm nảy sinh thái độ sống thực dụng thô bạo, biến cuộc đời con người thành một sự tồn tại thiển cận, nghèo nàn tinh thần. (Đáp lại lời khẳng định của hai nhà văn rằng không những Chúa Trời, mà cả quỷ sứ cũng không tồn tại, chúa quỷ Voland ngơ ngác hỏi: "Mà sao các ngài lại thế, động tới cái gì cũng đều không cả!") Đối với tác giả, sự thật, hiện thực cuộc sống, cái bằng cứ thứ bảy, là tiêu chí cao nhất, là bằng cứ không thể chối cãi của chân lý.
Gắn liền với nhóm sự kiện trào phúng là các nhân vật ma quái trong tác phẩm: chúa quỷ Satan và đoàn tùy tùng. Một nhà nghiên cứu Xô viết đã gọi Voland là "người bảo trợ" nghệ thuật trào phúng, "cái nghệ thuật muôn đời gắn bó với cái ác nhưng muôn đời làm điều ích lợi". Voland cùng thuộc hạ của ông ta đã thực hiện xuất sắc và độc đáo cái chức năng chủ yếu của trào phúng là lột trần cái ác, vạch ra cái xấu xa ở những nơi người ta trông thấy nó và đặc biệt là ở những nơi nó được ngụy trang kỹ. Chỉ ba ngày đến "du lịch" Matxcơva, họ đã quấy đảo, dồn hút lên bề mặt cuộc sống tất cả những gì xấu xa, ác độc, rọi vào đó những luồng ánh sáng khuếch đại gay gắt, đến mức người đọc không phải ai cũng chấp nhận nổi, sợ phải thấy chính mình trong ánh phản quang của nó.
Nhóm sự kiện thứ hai gắn liền với số phận của Nghệ Nhân, tức là với cuộc đời và số phận văn chương của chính Bulgakov, với quan niệm của ông về nghệ thuật.
Trong các bài nghiên cứu, hình tượng Nghệ Nhân thường được coi là "cái tôi thứ hai" của tác giả. Không phải ngẫu nhiên sau nhiều tìm kiếm, Bulgakov đã đặt tên cho tác phẩm của mình là Nghệ Nhân và Margarita. Thông qua hình tượng này, nhà văn tự bộc bạch mình, bộc bạch một cách trung thực, sâu sắc, đầy đủ những quan niệm nghệ thuật của mình.
Trong những trang tác phẩm, tuy chi tiết về tiểu sử, diện mạo, tính cách của Nghệ Nhân được đưa ra không nhiều, nhưng bấy nhiêu cũng đủ để tạo nên sự trọn vẹn của hình tượng. Là người nghiên cứu lịch sử, làm việc ở viện bảo tàng, biết năm thứ tiếng, trong đó có hai thứ tiếng cổ là Latin và Hy Lạp, dịch sách, đọc nhiều biết rộng, Nghệ Nhân đã chọn một đề tài lịch sử cổ đại, về Ponti Pilat và Iesua Ha-Notxri, cho cuốn tiểu thuyết của mình. Cái kiến thức thu lượm được, cái "sự biết" cộng với những suy ngẫm trong lòng đòi hỏi phải được nói ra, trở thành nhu cầu thôi thúc sáng tác. Trong cuốn tiểu thuyết này Bulgakov không kể về bản thân quá trình sáng tạo nghệ thuật. Qua hình tượng Nghệ Nhân, Bulgakov thể hiện cái thái độ đã được nghiệm trải của mình về bản chất, về cội rễ triết học của sự sáng tạo đó, về thiên chức, về bi kịch, chiến công của người nghệ sĩ và về "phần thưởng" mà người nghệ sĩ xứng đáng được nhận.
Trong Nghệ Nhân và Margarita có một câu được nói ra bởi miệng chúa quỷ Satan nhưng đã trở thành châm ngôn về số phận của Bulgakov cũng như số phận nghệ thuật: "Các bản thảo không cháy". Đó chính là một trong những quan niệm sâu sắc nhất, một niềm tin mãnh liệt nhất của nhà văn đối với văn chương, một cứu cánh của sự sáng tạo nghệ thuật. Cuốn tiểu thuyết của Nghệ Nhân bị đốt hủy, bản thân anh bị săn đuổi, bị khốn khổ, nhưng nghệ thuật chân chính, một khi đã được sáng tạo ra, sẽ tồn tại bất chấp tất cả, như cuộc sống, biến thành chính bản thân cuộc sống. Cũng vì vậy mà các hình tượng hư cấu của văn học thế giới đi vào tác phẩm Bulgakov cùng với các hiện tượng của cuộc đời thực. Và Ponti Pilat, nhân vật do Nghệ Nhân sáng tạo ra trong cuốn tiểu thuyết của mình, gần hai nghìn năm ngồi trên mỏm đá chờ lời phán quyết của Nghệ Nhân. Đồng thời cũng ở đây tác giả đã chỉ ra một mặt khác của quan niệm về sự sáng tạo: cái trách nhiệm, cái nghĩa vụ, cái "món nợ" của người nghệ sĩ, của nghệ thuật trước cuộc đời. Mặc dù căm ghét cuốn tiểu thuyết đã mang lại bao nhiêu tai họa cho mình, Nghệ Nhân cũng đã phải nói lời phán quyết cuối, giải thoát quan tổng trấn Ponti Pilat. Những đau khổ gánh chịu trong đời không làm chết đi bản chất cao thượng, nhân đạo của người nghệ sĩ.
Bi kịch của Nghệ Nhân là anh không được người đương thời hiểu và đánh giá đúng. Nó cũng là bi kịch của đời riêng Bulgakov và nhiều thiên tài khác. Nhưng ở đây có điểm khác biệt giữa cuộc đời Nghệ Nhân và đời thực của nhà văn: Bulgakov đã đấu tranh quyết liệt cho số phận của mình, còn Nghệ Nhân thì không. Có lẽ điều khác biệt này thể hiện lập trường của Bulgakov trong nghệ thuật. Về điều này một nhà nghiên cứu Bulgakov viết: "Nghệ Nhân không phải là chiến sĩ. Nghệ Nhân là nghệ sĩ. Mỗi người cần phải là chính mình. Và Nghệ Nhân, hơn bất kỳ một ai khác, đã sống đúng là mình - là hiện thân vừa của sức mạnh vô biên, vừa của sự yếu đuối vô bờ của sự sáng tạo.
Tất nhiên, mỗi nhà văn, như bất kỳ một nghệ sĩ nào, cũng mong muốn thành đạt. Nhưng một nhà văn lớn không chỉ sáng tác vì sự thành đạt. Bởi vì ý nghĩa của sự sáng tạo dù sao cũng không ở sự thành đạt, mà là ở trong một cái gì khác. Mục đích của sự sáng tạo là sáng tạo, và sự đánh giá tối cao đối với sự sáng tạo là sự tự đánh giá của chính bản thân người nghệ sĩ. Và nghĩa vụ của nhà văn, nói thẳng ra, kết thúc khi tác phẩm của anh ta kết thúc. Cuộc đấu tranh vì sự công nhận đã là một cốt truyện khác, một chủ đề khác, của tác giả và cuốn tiểu thuyết khác" [9]. Có lẽ chính vì vậy mà Bulgakov đã chọn cho Nghệ Nhân - mà cũng chính là chọn cho mình - phần thưởng sau khi chết là sự yên tĩnh, phần thưởng dành cho những tâm hồn mệt mỏi, chịu đau khổ nhưng lương tâm trong sạch và thanh thản.
Bên cạnh Nghệ Nhân là nàng Margarita. Đây là một trong những hình tượng phụ nữ tuyệt vời nhất của văn học Nga, mà nguyên mẫu là người vợ yêu quý của nhà văn Elena Sergheevna với tình yêu trong trắng, cao thượng của mình đã đi vào bất tử. Margarita là hiện thân của tình yêu vô bờ bến, vì tình yêu chấp nhận tất cả. Để cứu người tình, nàng sẵn sàng trở thành phù thủy, đi cùng quỷ sứ. Margarita là thần hộ mệnh của Nghệ Nhân, cũng như tình yêu là thần hộ mệnh của Nghệ Thuật - cặp bài trùng làm nên số phận.
Một nhóm sự kiện nữa trong Nghệ Nhân và Margarita là những sự kiện thuộc về lịch sử cổ đại, mà hai nhân vật chính là Ponti Pilat và Christ Jesus. Đề tài này thực ra đã có mặt hàng ngàn năm trong văn học thế giới trước Bulgakov, kể từ các sách Phúc Âm được viết ra đầu Công nguyên và gần đây tiếp tục được đưa vào các tiểu thuyết lớn như Cuộc mưu sát các ảo ảnh của V. Tendriacov (1982), Và hòn đá ấy trở thành Đấng Cứu Thế của Silva Otero (1985), Đoạn đầu đài của Tr. Aitmatov (1986)...[10].
Là một người nắm rất vững Kinh Thánh (Tân Ước ông gần như thuộc lòng, trong phòng làm việc của ông những tập Kinh Thánh bao giờ cũng nằm trên tầng dưới của giá sách trong tầm tay với), Bulgakov coi Kinh Thánh không phải là một giáo điều tôn giáo, mà là một giá trị văn hóa của loài người, để từ đó rút ra những ý nghĩa triết học, đạo đức, thẩm mỹ. Trong tiểu thuyết Nghệ Nhân và Margarita, Bulgakov dựa vào các truyền thuyết về cuộc đời và cái chết của chúa Jesus được ghi lại trong bốn cuốn sách Phúc Âm của Tân Ước mà tạo ra, như các nhà nghiên cứu nhận xét, một sách Phúc Âm mới, "Phúc Âm của quỷ Voland".
Tất nhiên trong tiểu thuyết của Bulgakov, cả Giesu cả Ponti Pilat đều là hình tượng văn học, được soi rọi dưới góc độ lý tưởng đạo đức và thẩm mỹ của nhà văn. Kỵ sĩ Ngọn Giáo Vàng Ponti Pilat, quan tổng trấn tàn bạo xứ Giudea, một chiến tướng không hề biết sợ trong trận mạc, đã một lần tỏ ra hèn nhát. Hiểu thế nào là lẽ công bằng, biết phân biệt cái thiện với cái ác, trong lòng có thiện cảm với nhà triết học lang thang, muốn cứu anh ta; nhưng rốt cuộc, dưới tác động của hoàn cảnh, không có can đảm coi nhẹ con đường công danh của mình, không dám đánh đổi nó để cứu một mạng sống, Pilat đã tuyên án tử hình Iesua. Chi tiết tưởng chừng vụn vặt trong quãng đời quan nghiệp đã biến thành hòn đá thử vàng bộc lộ sự hèn nhát về mặt đạo đức của Ponti Pilat. Ở đây chúng ta thấy rõ tính khái quát triết học của các chi tiết nhỏ trong cuốn tiểu thuyết của Bulgakov, từng hành động của con người cụ thể được xem xét trên bình diện loài người nói chung, mỗi một sự bất công đều thể hiện mối quan hệ giữa cái ác và cái Thiện. Hành động của Ponti Pilat khái quát lên sẽ là như sau: con người càng có quyền uy lớn thì càng phải có trách nhiệm đạo đức trước lý tưởng nhân đạo; nếu không bị kiểm soát bởi cái trách nhiệm cao cả đó, quyền lực sẽ biến thành độc đoán, sức mạnh sẽ trở nên bất lực, con người sẽ vượt qua ranh giới giữa cái Thiện và cái ác, bỏ lẽ phải và chân lý để đứng hẳn sang phía cái ác, hàng ngàn năm không được lương tâm tha thứ.
Thông qua hai hình tượng nhân vật lịch sử Ponti Pilat và Iesua Ha-Notxri, Bulgakov đưa ra một vấn đề vĩnh cửu nhưng đồng thời luôn luôn là thời sự về trách nhiệm của cá nhân trước lịch sử, trước cuộc đời. Ponti Pilat và Iesua là hai quan niệm sống đối cực nhau. Nếu Iesua tin tưởng tuyệt đối rằng thế giới được xây dựng trên cơ sở của cái Thiện, rằng tất cả mọi người đều nhân từ, thì Ponti Pilat ngược lại, cho rằng bản chất con người là độc ác, rằng cái Thiện sẽ không bao giờ chiến thắng. Bản thân cuộc đời đã không khẳng định cả hai quan điểm cực đoan đó. Iesua bị chính "những con người nhân từ" phản bội, đánh đập, xử hình; nhưng đồng thời vẫn không cái ác, cái xấu xa, cái đểu giả nào có thể loại trừ được cái tốt, cái thiện khỏi cuộc đời. Cho đến phút chót, Iesua vẫn không thôi chăm lo đến người khác; và chính cái lòng thiện vô cùng tận đó đã làm lung lay những hoài nghi của Ponti Pilat, khiến ông ta không thể sống yên, cũng phải làm một cái gì đó để chuộc lỗi lầm. Tác giả khẳng định: cái ác và cái Thiện cùng tồn tại trong đời. Nhưng sự tồn tại đó không phải do những thế lực siêu phàm nào chi phối, mà do sự lựa chọn hành động của chính bản thân mỗi người (Ponti Pilat có thể tha hay tử hình Iesua). Sự lựa chọn đó chỉ phụ thuộc vào các nguyên tắc đạo đức nằm trong quan điểm sống của từng người, sự lựa chọn đó tự đo đối với hoàn cảnh xung quanh. Nhưng một khi con người được tự do trong sự lựa chọn hành động, thì chính con người phải chịu trách nhiệm trong các hành động của mình, và không có gì - số phận, hoàn cảnh sống - có thể biện minh cho cái ác đã được tiến hành.
Câu chuyện về Ponti Pilat và Iesua Giesu, theo lời K. Simonov, "là một trong những trang tuyệt vời nhất của văn học Nga thế kỷ XX"[11]. Trong Nghệ Nhân và Margarita Bulgakov đã làm được cái mà hầu như không một nhà văn nào làm được: để cho nhân vật nhà văn của mình sáng tác ra một cuốn tiểu thuyết trọn vẹn, và cuốn tiểu thuyết đó đích thực là tuyệt tác.
Đọc Bulgakov không dễ. Tác phẩm của ông nhiều tầng lớp nghĩa, gợi nhiều tầng liên tưởng, và khả năng liên tưởng này phụ thuộc vào những hiểu biết của ngưười đọc về các lĩnh vực nhiều khi rất khác nhau của trí tuệ, văn hoá. Chẳng hạn: thời gian, diễn biến và kết cục cuộc tấn công của đàn rắn, cá sấu vào Matxcơva trong Những quả trứng định mệnh gợi liên tưởng đến cuộc tấn công của quân đội Napoleon vào nưước Nga năm 1812. Hoặc trong Trái tim chó, thời gian diễn ra sự "cải biến" (họ của giáo sư Preobrajenski cũng có nghĩa là "cải biến") con chó Sarik thành người là từ 24 tháng 12 đến 6 tháng giêng - chính là tuần lễ Giáng sinh trong lịch Thiên Chúa giáo. Còn trong Nghệ Nhân và Margarita chỉ riêng với hệ thống hơn 500 nhân vật đã đan chéo rất nhiều mạch liên tưởng: giữa các nhân vật của tiểu thuyết Nghệ Nhân và Margarita với các nhân vật văn học trước đó - dân gian và cổ điển (Voland với Mephistophel của Goethe và các loại chúa quỷ trong dân gian; Margarita với Bretkhen của Goethe và Hoàng hậu Margo của A. Dumas...); các nhân vật trong tiểu thuyết với các nhân vật lịch sử và đương thời (Ponti Pilat, Iesua Giesu, các nhà văn trong tiểu thuyết với các nguyên mẫu đời thực); giữa các nhân vật trong tiểu thuyết với nhau (người đọc có thể thấy hình tượng của Berlioz trong đại tư tế Caipha, hay Iesua Ha-Notxri trong Nghệ Nhân...) Các mạch liên tưởng còn nằm ở các tầng sâu hơn, như mối quan hệ giữa các hình tượng (Iesua và học trò của mình Matvei với Nghệ Nhân và học trò của mình Ivan Ponưrev...), tính biểu tượng triết học của các hình tượng... Chính vì thế Aitmatov, trong khi so sánh Sông Đông êm đềm của M. Solokhov với Nghệ Nhân và Margarita, hai "đối cực" đỉnh cao của văn học Xô Viết, đã nhấn mạnh đến tính "tinh luyện" "mang tầm trí tuệ rất cao" của văn xuôi Bulgakov [12]. Có lẽ điều đó đã góp phần làm nên số phận của nhà văn - những năm tháng bị nghi ngờ, chối bỏ, và vinh quang tất yếu, muộn màng nhưưng bất tử. Nó cũng làm nên tính tiên tri, tính nhân loại của Bulgakov khiến tác phẩm của ông đến với độc giả mọi không gian, mọi thời gian. Pandjikidze, một nhà văn nổi tiếng ngưười Gruzia, nói Bulgakov "đã là người đương thời của cha ông chúng ta, đang là ngưười đương thời với chúng ta và sẽ là người đương thời của con cháu chúng ta". Nhà văn Nga Leonid Lens khẳng định: "Bulgakov - nhà văn đang sống và sẽ sống chừng nào còn tồn tại văn học Nga" [13]. Còn những người dự định xây "Điện Panteon thế kỷ XX" ở Mỹ thì chọn đưa và tôn vinh ở đó tác giả Nghệ Nhân và Margarita là một trong hai nhà văn Nga đã làm rạng danh thời đại và đất nước mình.[14]
---
Chú thích:
[7] Xem Thư gửi M. L Slonimski ngày 8-5-1925. Chuyển dẫn theo Gudova trong phần chú giải M. Bulgakov. Tuyển tập tác phẩm năm tập, tập 2, trang 671.
[8], [11] Xem Lời giới thiệu của K. Simonov, trong tập M. Bulgakov. Các tiểu thuyết (Bạch vệ, Tiểu thuyết sân khấu, Nghệ Nhân và Margarita), Nxb Văn học, Moskva, 1973.
[9] L. Ianovskaia: Con đường sáng tác của M. Bulgakov, Moskva, Nxb Nhà văn Xô Viết 1983, trang 305.
[10] V. Tendriacov (1923-1984): nhà văn Nga nổi tiếng, tác giả của nhiều tác phẩm đã được dịch ra tiếng Việt; Tr. Aitmatov (sinh 1928): nhà văn Kirgizia, nhiều tác phẩm của ông đã được dịch ra tiếng Việt, trong đó có Đoạn đầu đài (bản dịch của Lê Khánh Trường, 1987); Silva Otero (1908-1985): nhà văn lớn người Venezuela, tiểu thuyết Và hòn đá ấy đã trở thành Đấng Cứu Thế do Đoàn Tử Huyến dịch (tạp chí Văn học nước ngoài (Hội nhà văn Việt Nam) số 2-1997, Nxb Văn học (với tên Đấng Cứu Thế), 1997.
[12] Xem bài Cái giá của sự sáng mắt ra, trong tập Tr. Aitmatov. Những bài báo, phát biểu, đối thoại, phỏng vấn, M., 1988, trang 373.
[13] L. Lens. Nhà văn yêu quí của tôi, trong tập Hồi kí về M. Bulgakov, trang 380, Moskva, Nxb Nhà văn Xô Viết, 1988.
[14] Theo V. Laksin trong bài Thế giới Bulgakov trong M. Bulgakov. Tuyển tập tác phẩm năm tập, tập 1, Moskva, 1989.