![]() |
|
Rơm khô và cỏ khô là mặt hàng bán rất chạy. |
Nửa đêm, trong khi các làng xung quanh đã chìm sâu trong bóng tối thâm u mùa hè thì làng Thổ Tang vẫn sáng trưng, huyên náo. Dọc đường trục làng gần 2 km hơn 100 ôtô đậu thành dãy, chiếc này vừa ra chiếc khác thế vào. Các quán phở vẫn đỏ lửa. Những kho dưa hấu, dứa, cam... ken liền tấp nập cảnh cân đếm, bốc chuyển.
Trong một đêm ở Thổ Tang diễn ra... hai phiên chợ. Phiên thứ nhất từ khi mặt trời lặn đến khoảng 1-2h sáng; phiên thứ hai từ 2h tới sáng. Cuộc đổi phiên rất nhịp nhàng. Người Thổ Tang cũng đã quen với cái lịch sinh hoạt kỳ biệt ấy. Khi đổi phiên nhóm này sẽ giao ca cho nhóm kia, vợ giao ca cho chồng, chủ giao ca cho kẻ làm thuê... để thay nhau thức trắng với chợ đêm.
Nhưng có một nhóm người không giao ca, họ làm việc “overnight” với những đêm trắng triền miên. Đó là đội bốc vác thuê. Trước đây nhóm bốc vác thuê gằn nhau rất gắt. Họ chia bè nhóm tranh giành mối, đêm nào cũng xảy ra ẩu đả làm náo động cả làng. Sau chính quyền can thiệp, tập hợp họ thành một nhóm có lề luật hoạt động chung, cử một người làm trưởng rồi chia thành bốn đội lẻ, mỗi đội khoảng 20 người, khoanh vùng hoạt động, không ai được lấn sân nhau.
Có chân trong đội bốc vác là cơ may cho các chàng trai làm thuê. Bởi một đêm mỗi người có thể kiếm được 100.000 đồng. Chỉ sợ không có sức chứ việc rất nhiều, đêm nào cũng “chạy sô” không kịp. Chưa bốc xong dưa cho chủ này, chủ kia đã qua gọi đi bốc mận, dứa, xoài, cam, chè, lạc... Họ chỉ nghỉ giải lao trong khoảng thời gian đổi phiên, tranh thủ đi ăn lót dạ tại các quán phở vẫn nghi ngút khói suốt đêm hoặc đứng tán gẫu bên đường chờ các xe hàng trở về để bốc hàng cho tới sáng. Mỗi đêm Thổ Tang đón ít nhất 200 ôtô, mỗi ôtô chứa 3-30 tấn chè, lạc, đỗ, hoa quả, trâu bò, phân đạm, máy móc... Vào 4-5h sáng, các ôtô trên lại lên đường đưa hàng đi khắp miền Bắc.
Những ngôi nhà nằm sâu hai bên đường trục lúc nửa đêm về sáng cũng sôi động không kém gì cảnh ngoài chợ. Hàng chục lò mổ trâu, bò, lợn, ngựa... chí chát tiếng dao búa. Các lò mổ thường hoạt động từ 22h đến 3h hôm sau để kịp đóng hàng cho đội tiểu thương. Lò mổ lớn mỗi đêm có thể làm thịt 10 con trâu, bò. Tầm 3h sáng, tiếng chó sủa dậy cả làng bởi tiếng xe máy rú ga ầm ĩ khắp ngõ ngách “chạy đua” cất thịt về các chợ lớn ở Hà Nội, Hà Tây, Phú Thọ, Hải Phòng, Hải Dương...
![]() |
|
Khu chuyên bán rau xanh. |
Người Thổ Tang bảo ngày ở đây bắt đầu lúc 1h, bởi phiên chợ của ngày mới chính thức họp từ lúc này. 3h sáng trở đi cả làng Thổ Tang thức dậy hết. Tất cả con đường dẫn vào làng bị lấp kín người và hàng hóa. Lượng người túa ra mỗi lúc một đông đến nỗi ôtô, xe máy nào đi qua làng chỉ cần chậm một chút là bị tắc lại, phải chờ đến vãn chợ mới qua nổi.
Những đôi dép của người gánh cỏ quét loẹt quẹt trên mặt đường. Tiếng hàng trăm xe rau lọc cọc khắp lối ngõ. Góp mặt vào chợ lúc này không chỉ có đội bốc vác, cánh tài xế, những ông bà chủ đứng chỉ trỏ, cân đo đong đếm... mà còn hàng nghìn nông dân đến từ các làng gần, xa. Làng xa nhất tới 30 km. Người ta đến chợ, họp chợ, mặc cả, đếm tiền... không cần ánh sáng mặt trời. Chính quyền xã đã xây một cái chợ rất to bên đường cái nhưng nó chỉ đủ sức họp ban ngày, còn ban đêm đóng cửa vì quá tải. Xã đành dùng gần 2 km đường cái để cắm chợ đêm.
Những nông dân nghèo từ các làng Đại Đồng, Tân Tiến, Thượng Trưng, Vĩnh Sơn, Cao Đại... đến chợ đêm mang theo đủ loại nông sản mà họ làm ra. Từ hành tỏi, rau xanh, rau thơm, nấm hương, mộc nhĩ đến cả rơm khô, cỏ voi, phân, tro, trấu... Tất cả lũ lượt tìm về đứng đúng những khu đã được UBND xã cắm mốc sẵn: khu chuyên bán rau, khu chuyên hoa quả, khu mua bán phân, tro, trấu, rơm khô...
Trong bóng tối khuất xa cột đèn cao áp, hàng trăm gánh rơm khô, cỏ voi, xe phân tro trấu chen nhau đứng chật lú hai mép đường. 11.000 đồng/bó rơm khô, người mua là chủ các cơ sở làm nấm rơm trong tỉnh. Cỏ voi 16.000 đồng/xe không đủ bán cho các ông chủ buôn trâu xuyên Việt. Bao nhiêu phân, tro, trấu... của bà con cũng được các “đại gia” người Thổ Tang bao mua tất.
Sau đó họ đưa về nhà, thuê người tới sơ chế lại rồi đóng bao, gắn nhãn mác chuyển lên ôtô tiếp tục chở đi Nam Định, Thái Bình, Thái Nguyên, Thanh Hóa... Một tạ phân tằm chở lên Hà Giang bán cho chủ trang trại cam giá tới 40.000 đồng, rất lãi.
Còn một khu chợ khác chỉ rặt người là chợ lao động bắt đầu họp từ 4-5h. “Chợ người” Thổ Tang đông hơn bất cứ chợ cửu vạn nào ở Hà Nội. Mỗi đêm có tầm 600-1.000 người từ Sơn Tây, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Bạch Hạc... về đây họp chợ. Còn vào ngày mùa lượng người chờ việc lên tới con số vài nghìn. Họ đến đây làm đủ thứ: từ gặt hái, cấy cày đến “mông” hàng (chọn lọc, sàng nhặt, sơ chế, đánh bóng, đóng bao...) thuê cho người Thổ Tang. Từ tinh mơ, các ông bà chủ ở Thổ Tang đã ra chợ “nhặt” người về, thổi cơm ăn xong mới giao việc. “Chợ người” Thổ Tang đã nhộn nhịp như vậy từ 20 năm qua.
Một cán bộ xã Thổ Thang tâm sự, người làng anh cực, sinh ra đã phải lo toan tính toán, thức trắng đêm để làm hàng. Cả làng đều đi buôn (trừ trẻ em). Nếu chồng ở nhà thì vợ “cắm” chợ Đồng Xuân; con cái, ông bà “cắm” tận Sơn La, Lai Châu. Cả tháng, cả năm có khi không gặp được nhau. Hoặc nếu vợ chồng được gần nhau thì lại chịu cảnh... chồng ngủ vợ phải thức. Măng khô ở chợ Đồng Xuân “cháy”, vợ gọi điện về kêu chồng đánh hàng ôtô xuống. Rau xanh ở Tuyên Quang, Sơn La “sốt”, con chỉ điện về ban sáng, trưa bố đã gửi đủ hàng lên. Cả làng có tới 130 xe tải, có trên 1.300 điện thoại bàn và di động...
Đó là những phương tiện làm ăn rất năng động và đặc trưng của người Thổ Tang. Nếu xét quy mô, tốc độ buôn bán ít có nơi nào bì được với Thổ Tang. Chính quyền vừa thống kê hiện cả xã có hơn 780 hộ buôn bán cỡ “đại gia” (vốn 200-300 triệu cho tới hàng tỷ đồng) và khoảng 1.500 hộ buôn bán nhỏ (vài chục triệu đồng).
“Người làng tôi buôn không chê bất cứ thứ gì, từ đồ “thượng vàng” (vàng bạc, đá quý, xe máy, tủ lạnh, tivi...) đến “hạ cám” (phân, tro, trấu...), chỉ trừ những mặt hàng quốc cấm”, ông Đỗ Xuân Tiến (Phó chủ tịch UBND xã Thổ Tang) nói.
Ông Tiến tự hào: “Mỗi năm người dân xã tôi xuất khẩu trên 5.000 tấn chè khô (bằng lượng xuất khẩu của 10 công ty chè quốc doanh, chủ yếu xuất đi Trung Quốc, Campuchia, châu Âu); trên 3.000 tấn lạc nhân, đưa vào TP HCM; 5.000 tấn trâu bò và thu gom 20.000 tấn rau quả”. Mỗi ngày cả làng nhập từ Tây Bắc về 3.000-4.000 tấn mận tam hoa... Nhờ “cửa ngõ” Thổ Tang mà hàng hóa từ phía Bắc “chảy” về phía Nam và ngược lại (lưu thông theo kiểu “dòng xoáy” chứ người Thổ Tang không ưa kiểu “tủ kính bày hàng”).
Người Thổ Tang chẳng làm ra món hàng gì nhưng họ biết cách... đem hàng hóa từ chỗ này tới chỗ khác để làm giàu. Họ buôn quên ăn quên ngủ, vắt kiệt mình để chạy đua với thời gian. Nếu cả nước ta có được ba ngôi làng như Thổ Tang chắc chắn sẽ giải mã được bài toán hóc búa tìm đầu ra cho nông sản hiện nay.
Trong đình làng Thổ Tang còn có bia ghi lai lịch nghề buôn. Con cái lớn lên được cha mẹ dạy rằng không buôn không phải là người Thổ Tang. Đi buôn đã là cái máu di truyền và quy luật thị trường khiến họ phải tinh nhạy về trí óc, làm lụng căng như dây cót đồng hồ. Quốc hội chỉ vừa biểu quyết phê chuẩn công trình thủy điện Sơn La, Thổ Tang đã “cài” ngay 500 người lên đó lập “doanh trại” bán rau xanh, thịt, muối... Gần đây thủy điện Nà Hang (Tuyên Quang) mới động thổ, 40 hộ người Thổ Tang đã có mặt họp chợ. Thế cũng chưa đáng kinh ngạc bằng chuyện ngay trong ngày giải phóng miền Nam, một người Thổ Tang, ông Nguyễn Văn Thường, đã mang cờ và ảnh Bác Hồ theo xe bộ đội vào Sài Gòn... bán.
(Theo Tuổi Trẻ Chủ Nhật)

