Hướng dẫn của Bộ Y tế về cách phòng chống SARS
Ngày 4/4, Bộ Y tế ban hành Hướng dẫn tạm thời chẩn đoán, xử trí và phòng lây nhiễm Hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS). Đây là văn bản mới, thay thế cho bản hướng dẫn đã ban hành ngày 19/3. Sau đây là nội dung chính
1. Chẩn đoán
a. Lâm sàng:
- Khởi phát: Trung bình một tuần lễ sau khi tiếp xúc với nguồn lây
- Triệu chứng toàn thân: Đột ngột sốt cao, thường sốt liên tục trên 38º C, đôi khi rét run, mặt đỏ, mạch nhanh, ăn kém, đau đầu, đau mỏi các cơ, có thể đau quanh hốc mắt và nổi hạch ngoại biên.
- Triệu chứng hô hấp với một hoặc nhiều triệu chứng sau: Ho (thường ho khan, một số trường hợp có đờm khi bội nhiễm), khó thở, suy hô hấp, nghe phổi có thể có nhiều tiếng ran.
c. Cận lâm sàng:
- X-quang phổi: Bị viêm phổi kẽ, lúc đầu có thể khu trú, sau đó lan toả. Tổn thương tiến triển nhanh từng ngày, trường hợp nặng có thể mờ toàn bộ hai bên phổi.
- Khí máu: Có thể giảm ôxy máu nặng.
- Công thức máu: Số lượng bạch cầu và tiểu cầu bình thừơng hoặc giảm. Khi có bội nhiễm vi khuẩn thì số lượng bạch cầu tăng lên.
d. Vi sinh vật: Làm các xét nghiệm để xác định vi sinh vật (nếu có điều kiện) và các xét nghiệm vi khuẩn (đờm, dịch phế quản, máu), làm kháng sinh đồ.
2. Xử trí
Về nguyên tắc, mọi trường hợp được phát hiện bệnh đều phải nhập viện và cách ly hoàn toàn. Nguyên nhân gây bệnh chưa được xác định rõ ràng, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, vì vậy chủ yếu chỉ điều trị triệu chứng, phát hiện và xử trí kịp thời tình trạng suy hô hấp.
a. Điều trị triệu chứng: Dùng thuốc giảm ho nếu có ho khan nhiều; nhỏ mũi bằng các thuốc nhỏ mũi thông thường. Nếu sốt trên 38,5º C thì cho dùng thuốc hạ sốt paracetamol ngày 4 lần. Liều dùng: người lớn 2 g/ngày, trẻ em 50-60 mg/kg cân nặng/ngày.
b. Dinh dưỡng, điều chỉnh rối loại nước và điện giải: Đảm bảo đủ dinh dưỡng cho người bệnh; uống nhiều nước hoa quả. Truyền tĩnh mạch các dung dịch Natri Chlorua 0,9%, Glucose 5%, Ringerlactat. Lượng dịch truyền tùy theo diễn biến lâm sàng và điện giải đồ. Ngoài ra, có thể truyền tĩnh mạch các dung dịch axit amin.
c. Điều trị hỗ trợ: Dùng Methylprednisolone tiêm tĩnh mạch với liều 1 mg/kg/ngày khi có suy hô hấp, nhiễm trùng, nhiễm độc nặng. Sử dụng cho đến khi dấu hiệu suy hô hấp thuyên giảm, nhưng không nên quá 5 ngày.
Có thể dùng gammaglobulin truyền tĩnh mạch với liều 200- 400 mg/kg (chỉ dùng một lần), hoặc dùng albumin.
d. Điều trị suy hô hấp: Hỗ trợ thở ôxy qua ống thông mũi, mặt nạ, đặt nội khí quản hoặc máy thở.
e. Điều trị căn nguyên:
- Điều trị bội nhiễm phế quản, phổi: Dùng kháng sinh phổ rộng nhóm cephalosporine thế hệ 3 hoặc quinolone thế hệ mới, kết hợp với một thuốc nhóm aminoside.
- Thuốc kháng viurs: Có thể dùng Ribavirin 800mg/ngày, tối đa 1200 mg/ngày (theo cân nặng), chia làm 3- 4 lần/ngày, uống trong bữa ăn. Dùng đến khi hết sốt hai ngày, thường 7-10 ngày. Chống chỉ định ở người dị ứng với thuốc hoặc tá dược của thuốc, phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú, người bị bệnh tim nặng, suy thận, suy gan, xơ gan, các bệnh huyết sắc tố. Phụ nữ đã dùng Ribavirin thì không được có thai trong vòng 4 tháng sau khi ngừng thuốc.
g. Tiêu chuẩn xuất viện: Người bệnh được chuyển sang khu đệm khi có đủ các tiêu chuẩn sau:
- Hết sốt ít nhất 5 ngày mà không dùng thuốc hạ sốt.
- Hết ho.
- Toàn trạng tốt, ăn ngủ bình thường.
- Mạch, huyết áp, nhịp thở, các xét nghiệm máu trở về bình thường; X-quang phổi cải thiện.
Sau 7 ngày điều trị tại khu đệm, nếu tình trạng sức khỏe vẫn ổn định, bệnh nhân sẽ được xuất viện. Sau đó, họ phải khám lại tại nơi đã điều trị và chụp X-quang phổi kiểm tra hằng tuần cho đến khi phổi trở về bình thường. Trong thời gian này, người bệnh cần nghỉ tại nhà, không đến nơi công cộng.
Ngoài ra, sau khi xuất viện, người bệnh phải tự theo dõi nhiệt độ 12 giờ/lần, nếu nhiệt độ cao hơn 38º C ở hai lần đo liên tiếp hoặc có dấu hiệu bất thường khác, phải đến khám lại ngay tại nơi đã điều trị.
3. Phòng lây nhiễm
a. Tổ chức khu vực cách ly: Có ba khu vực cách ly tại bệnh viện có điều trị người bệnh SARS.
- Khu vực nguy cơ cao: Nơi điều trị và chăm sóc người bệnh SARS hoặc nghi ngờ mắc SARS. Khu vực này phải có bảng màu đỏ ghi "Khu vực cách ly đặc biệt" và hướng dẫn chi tiết treo tại lối vào, có người trực gác. Nó gồm 4 khu riêng biệt: khám, theo dõi người bệnh nghi ngờ SARS, điều trị người bệnh SARS và khu đệm.
- Khu vực có nguy cơ: Nơi có nhiều khả năng có người bệnh SARS đến khám và điều trị ban đầu (như khoa hô hấp, cấp cứu, khám bệnh...). Khu vực này phải có bảng hướng dẫn chi tiết treo ở lối ra vào và có ký hiệu màu vàng.
- Khu vực khả năng có nguy cơ: Bao gồm những nơi có người bệnh khác. Khu vực này có bảng màu xanh.
b. Phòng ngừa cho người bệnh và khách đến thăm: Cách ly ngay những người nghi ngờ mắc bệnh, không xếp chung người đã được khẳng định mắc SARS với người thuộc diện nghi ngờ. Tất cả đều phải đeo khẩu trang. Việc chụp X-quang, làm các xét nghiệm, khám chuyên khoa... được tiến hành tại giường, nếu di chuyển bệnh nhân, phải có đầy đủ các phương tiện phòng hộ. Người bệnh khạc nhổ vào khăn giấy mềm dùng một lần và cho ngay vào thùng rác y tế.
Trong thời gian có dịch , hạn chế người nhà vào thăm bệnh nhân trong bệnh viện, nếu đến thăm phải đeo khẩu trang. Cấm người nhà và khách đến thăm khu cách ly.
c. Phòng ngừa cho nhân viên y tế: Dùng khẩu trang N95, kính bảo hộ, mặt nạ che mặt, áo chòang giấy dùng một lần, găng tay, mũ , bao giầy hoặc ủng. Bệnh phẩm xét nghiệm phải được đặt trong túi nylon hoặc hộp vận chuyển. Rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn sau khi tiếp xúc với dịch tiết đường hô hấp, dụng cụ bẩn, chăm sóc ngừơi bệnh, sau khi tháo găng tay, khẩu trang và trước khi rời buồng bệnh, khu vực cách ly. Những người tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân ở khu vực cách ly đặc biệt phải tắm, thay quần áo trước khi ra khỏi bệnh viện.
Bệnh viện cần lập danh sách nhân viên y tế làm việc tại khoa có người bệnh SARS. Họ sẽ tự theo dõi nhiệt độ hằng ngày, nếu có dấu hiệu nghi SARS sẽ được khám, làm các xét nghiệm và theo dõi.
d. Xử lý dụng cụ: Những dụng cụ y tế dùng lại phải khử khuẩn ngay, sau đó mới chuyển đến buồng cọ rửa. Dụng cụ dùng cho người bệnh phải được cọ rửa và tẩy uế bằng xà phòng và hóa chất khử khuẩn hằng ngày và mỗi khi bẩn. Mỗi người bệnh có dụng cụ phục vụ vệ sinh và dinh dưỡng riêng. Đồ vải được hấp ướt dưới áp lực trước khi giặt.
e. Xử lý môi trường và chất thải bệnh viện: Các mặt bằng, bàn ghế ở khu vực buồng bệnh và khu vực cách ly phải được lau tối thiểu 2 ngày/lần bằng các hóa chất sát khuẩn. Nhân viên làm vệ sinh phải sử dụng các phương tiện phòng hộ như nhân viên y tế. Mọi chất thải rắn tại khu vực cách ly đặc biệt phải được thu gom ngay để đem đi tiêu hủy.
g. Vận chuyển người bệnh: Hạn chế vận chuyển người bệnh, trừ những trường hợp nặng, vượt quá khả năng điều trị của cơ sở. Nhân viên vận chuyển phải mang đầy đủ phương tiện phòng hộ. Tẩy uế xe cứu thương sau mỗi lần vận chuyển.
h. Xử lý người bệnh tử vong: Người bệnh tử vong phải được khâm liệm tại chỗ, phải khử khuẩn bằng các hoá chất Chloramin ß, formalin. Chuyển tử thi đến nơi chôn cất hay hỏa táng bằng xe riêng. Tử thi phải được hỏa táng hoặc chôn cất trong vòng 24 giờ, tốt nhất là hoả táng.
S.K.