Các thiết bị bức xạ, gồm máy X quang, máy có sử dụng các nguồn hạt nhân, được đưa vào Việt Nam từ 40 năm trước. Trong đó, ngành y tế sử dụng nhiều nhất (khoảng 99% số máy phát tia X, 56% máy có nguồn phóng xạ). Số nguồn còn lại do các cơ sở công nghiệp hay nghiên cứu vận hành. Các bộ ngành chức năng tự chịu trách nhiệm quản lý thiết bị ở ngành mình. Tuy nhiên, chưa bao giờ có một cơ quan chuyên trách đủ năng lực quản lý, kiểm tra an toàn với các cơ sở bức xạ. Phải đến khi Pháp lệnh An toàn và kiểm soát bức xạ được ban hành (năm 1996), nhiệm vụ quản lý nhà nước về bức xạ mới được giao thống nhất cho Bộ Khoa học và Công nghệ, và lập tại đây cơ quan chuyên trách là Ban An toàn bức xạ.
Từ năm 1999, các khóa học về an toàn bức xạ bắt đầu được mở. Nhưng đến nay mới chỉ khoảng một nửa trong số hơn 4.000 nhân viên vận hành các thiết bị nguy hiểm đó được đào tạo và cấp chứng chỉ. Ông Đặng Thanh lương, Phó ban An toàn bức xạ, giải thích: "Cơ quan chúng tôi ở Hà Nội và bộ phận TP HCM chưa đầy 20 người, mà lại phải giải quyết vấn đề tồn đọng trong quản lý bức xạ mấy chục năm nên rất khó".
Theo ông Lương, nhân lực và vật lực đang là khó khăn lớn trong công tác quản lý an toàn bức xạ. Pháp luật chuyên ngành quy định, các máy chiếu tia X phải được kiểm tra mỗi năm một lần, nhưng cả nước chỉ có 3 cơ sở có đủ khả năng làm việc này: Viện Nghiên cứu nguyên tử Đà Lạt, Viện Khoa học hạt nhân Hà Nội, và Viện Trang thiết bị y tế của Bộ Y tế. Chỉ với khoảng 2.000 máy chụp tia X trên cả nước, làm đúng luật phải cần cả trăm người suốt cả năm chỉ rong ruổi kiểm tra. Các sở khoa học và công nghệ là cơ quan chuyên trách ở địa phương, nhưng không phải nơi nào cũng có cán bộ chuyên về an toàn bức xạ. Ví dụ như Thái Bình, phải tháng 11 này mới mở lớp học đầu tiên về an toàn và kiểm soát bức xạ, và đơn vị này cho đến nay cũng không có một máy kiểm soát bức xạ nào (dosemeter).
Theo đánh giá của Ban An toàn bức xạ, trình độ chuyên môn thấp của các cán bộ kỹ thuật có thể dẫn đến những sự cố nguy hiểm. Năm 1992 ở Viện Vật lý thuộc Trung tâm Khoa học và công nghệ quốc gia cũng đã xảy ra sự cố khi cán bộ kỹ thuật vận hành máy gia tốc Microton. Tháng 10/2000, xảy ra vụ chiếu xạ quá liều ở một khoa điều trị bệnh ung thư. Một bệnh nhân đã phải chịu liều xạ bằng 1,8 lần mức cho phép. Có thể so sánh trường hợp này với vụ tai nạn đã được lưu trong tài liệu của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế IAEA: Một bệnh viện ở San Jose của Costa Rica đã chiếu xạ mức 1,6 lần cho phép với 115 bệnh nhân, trong đó trực tiếp làm chết 3 người. Ông Lương nói: "Các trường hợp trên lỗi đều ở con người. Như sự cố Khánh Hòa, nhân viên kỹ thuật được đào tạo nhưng khi máy chụp gamma bị trục trặc, đã không khoanh vùng nguy hiểm và báo cho chuyên gia có thiết bị chuyên dụng đến xử lý. Họ tự ý chuyển máy và tự xử lý, dẫn tới làm rơi cáp có gắn hạt nguồn iridium 192 ra ngoài".
An toàn cho chính những người vận hành thiết bị bức xạ đang là vấn đề báo động. Theo ông Nguyễn Quang Hải, chuyên gia của Viện Năng lượng nguyên tử, các nước trong khu vực như Malaysia quy định rất chặt chẽ vấn đề an toàn bức xạ. Cơ sở nào sử dụng thiết bị nguy hiểm mà công nhân không có liều kế (kiểm tra liều phóng xạ cá nhân), hay máy kiểm soát bức xạ tức thời... sẽ bị phạt nặng và buộc đóng cửa ngay. Trong khi đó ở Việt Nam mới có khoảng 50% nhân viên được trang bị các liều kế, dù thiết bị này đã tự sản xuất được trong nước với giá rẻ. Bộ Khoa học và Công nghệ đã điều tra ở 39 tỉnh, thành phố, thấy trong số hơn 2.500 nhân viên bức xạ chỉ có gần 750 người (khoảng 30%) có hồ sơ liều bức xạ cá nhân. Điều đó có nghĩa, không phải tất cả những người được trang bị liều kế đã được theo dõi liều chiếu xạ nghề nghiệp.
Các máy chiếu xạ tại các cơ sở y tế không được kiểm tra chất lượng thường xuyên, không có đủ thiết bị đo, nên khó xác định chính xác liều xạ trị áp dụng với bệnh nhân. Một cuộc khảo sát của Bộ Y tế năm 2000 trong chương trình an toàn bức xạ quốc gia, đã phát hiện nhiều trường hợp bệnh nhân phải chịu liều xạ vượt quá mức cho phép 18-20%. Còn với ứng dụng y học hạt nhân, hầu hết các cơ sở đưa thuốc phóng xạ vào cơ thể bệnh nhân với hoạt độ sai số gần 10%.
Ông Nguyễn Đức Kiên, Giám đốc điều hành Apave Việt Nam & Đông Nam Á, đơn vị bị thiệt hại trong tai nạn bức xạ vừa xảy ra tại Khánh Hòa nhận xét: "Sự việc của chúng tôi có thể coi là hồi chuông báo động cho quản lý an toàn bức xạ ở Việt Nam. Nếu các cơ quan chức năng không có giải pháp kịp thời siết chặt kỷ cương thì tai họa tương tự có thể sẽ xảy ra, mà hậu quả không thể lường trước được".
Nghĩa Nhân