![]() |
| Lewis Hamilton. |
Đường đua Montreal còn được gọi với cái tên: Gilles Villeneuve, cha đẻ của nhà cựu VĐTG Jacques Villeneuve. Đây là một sự tưởng niệm dành cho tay đua quá cố Gilles Villeneuve của đội đua William. 26 năm trước, ông đã tử nạn ở chặng đua nước Bỉ ngay trước đó.
Với những khoảng tăng tốc và về đích thẳng tắp và rộng, Montreal là nơi các tay lái có thể nhấn ga thoải mái trong một quãng thời gian nhất định (đó là lý do giải thích vì sao tốc độ tối đa tại đây lên đến 348 km/h). Tuy nhiên, nếu không kiểm soát tốt tốc độ, thì nguy cơ tai nạn rất cao, thậm chí ở mức độ nguy hiểm.
Cuộc đua năm ngoái là một minh chứng. Dưới những cơn mưa nặng hạt, đường đua Montreal trở nên trơn trượt và sau 70 vòng đua, xe an toàn (safety car) đã phải vào sân tới 4 lần; còn kết thúc chặng đua chỉ còn 12 tay lái cán đích. Đó là hậu quả của những pha nhấn ga hết cỡ nhưng không kịp phanh ở ngã rẽ. Tai nạn khủng khiếp nhất thuộc về Kubica, khi chiếc xe của anh đâm thẳng vào bức tường bêtông và vỡ vụn. Tay lái người Ba Lan phải rời đường đua bằng cáng và không ít người khi đó nghĩ rằng anh sẽ không thể thi đấu được nữa, song rất may, Kubica đã kịp hồi phục.
Nhưng Montreal cũng là những kỷ niệm thật lung linh với Hamilton. Trong một chặng đua đầy khốc liệt dưới mưa. Tay lái da màu người Anh là người giữ được cái đầu lạnh hết sức cần thiết để lần đầu tiên trong sự nghiệp giành ngôi nhất chặng. Trước thời điểm ấy, Hamilton đã gây ấn tượng khi liên tục giành podium ở những chặng đua đầu mùa, song phải tới khi nhất chặng, anh mới thực sự trở thành một tay đua lớn. Chiến thắng ấy cũng đưa Hamilton lên ngôi đầu bảng thành tích cá nhân sau 6 chặng của mùa giải 2007.
Mùa giải 2008 này tưởng chừng sẽ trở nên nhàm chán hơn, khi Ferrari với bộ đôi tài năng Massa - Raikkonen thay nhau chiến thắng chặng và thống trị ở cả hai bảng xếp hạng cá nhân và đội đua. Thế nhưng, sau chiến thắng ở Istanbul cách đây 2 tuần, Hamilton đã vượt mặt Raikkonen đầy thuyết phục, và khiến cuộc đua rơi vào thế rất gay cấn vì khoảng cách điểm giữa các ứng cử viên không quá chênh lệch.
Những kết quả trong ngày đua thử hôm qua cũng khẳng định sự so kè ấy. Trong buổi đua thử ban sáng, Massa giành fastest lap với thời gian 1'17"553, tiếp theo là Kubica (+0,256 giây), Kovalainen (+6,580) và Heidfeld (+0,629). Trong khi đó, Raikonnen và Hamilton so kè nhau khá quyết liệt ở vị trí thứ... 5 và 6. Và họ chỉ hơn nhau 0,011 giây (+0,739 so với + 0,750).
Tuy nhiên, đến buổi chiều, Hamilton đã thể hiện phong độ tuyệt vời khi giành best lap với thành tích 1'15"752. Ngược lại, Raikkonen chỉ xếp thứ 3 (+0,341 giây) còn Massa đứng thứ 5 (+0,661). Trong khi đó đồng đội của Hamilton là Kovalenen nhanh thứ 4 (+0.579). Ổn định nhất vẫn là Kubica, khi anh lại nhanh thứ nhì (+0,271) lần thứ hai liên tiếp. Có vẻ như tay lái người Ba Lan đang rất muốn quên đi nỗi buồn một năm về trước.
Trong khi đó, phong độ của các tay lái Renault vẫn quá thảm hại. Trong buổi đua thử buổi sáng, Alonso đứng thứ 10, Nelson Piquet thứ 17. Đến buổi chiều, Alonso thứ 17 còn Nelson Piquet đứng... cuối cùng.
Tham dự F1 thế giới từ 30/10/1978.
Số GP đã tham dự: 29.
Chiều dài đường đua: 4,361 km.
Tổng chiều dài chặng đua: 305,270 km (70 vòng).
Số góc cua: 12 (5 trái, 7 phải).
Sức chứa trường đua: 100.000 người.
Tốc độ tối đa: 348 km/h.
Chạy một vòng nhanh nhất (best lap): 1’13’’622 - Barrichello (Ferrari, 2004).
Kỷ lục giành pole: 1’12’’275 – R.Schumacher (Williams, 2004).
Vị trí chặng Canada năm 2007: 1. Hamilton, 2. Heidfeld, 3. Wurz.
| Cuộc đua chính thức của GP Canada diễn ra chiều chủ nhật này (0h ngày 9/6, giờ Hà Nội). Cuộc đua phân hạng chiều thứ bảy xác định thứ tự xuất phát chiều chủ nhật như sau: |
| Thứ tự các tay đua sau 6 Grand Prix đầu tiên | |||
| Tay đua | Đội | Quốc tịch | Điểm |
| 1 Lewis Hamilton | McLaren | Anh | 38 |
| 2 Kimi Raikkonen | Ferrari | Phần Lan | 35 |
| 3 Felipe Massa | Ferrari | Brazil | 34 |
| 4 Robert Kubica | BMW | Ba Lan | 32 |
| 5 Nick Heidfeld | BMW | Đức | 20 |
| 6 Kovalainen | McLaren | Phần Lan | 15 |
| 7 Mark Webber | Red Bull | Australia | 15 |
| 8 Jarno Trulli | Toyota | Italy | 9 |
| 9 Fernando Alonso | Renault | Tây Ban Nha | 9 |
| 10 Nico Rosberg | Williams | Đức | 8 |
| 11 Nakajima | Williams | Nhật | 7 |
| 12 Vettel | Toro Rosso | Đức | 4 |
| 13 Barrichello | Honda | Brazil | 3 |
| 14 Jenson Button | Honda | Anh | 3 |
| 15 Bourdais | Toro Rosso | Pháp | 2 |
| 16 Fisichella | Force India | Italy | 0 |
| 16 Coulthard | Red Bull | Scotland | 0 |
| 16 Nelson Piquet Jr | Renault | Brazil | 0 |
| 16 Adrian Sutil | Force India | Đức | 0 |
| 16 Timo Glock | Toyota | Đức | 0 |
| Thứ tự đội đua sau 6 GP | |
| Đội | Điểm |
| 1 Ferrari | 69 |
| 2 McLaren | 53 |
| 3 BMW | 52 |
| 4 Red Bull | 15 |
| 5 Williams | 15 |
| 6 Renault | 9 |
| 7 Toyota | 9 |
| 8 Toro Rosso | 6 |
| 9 Honda | 6 |
| 10 Force-India | 0 |
Tuấn Sơn
