Richmal Crompton
Chương 8
Băng giang hồ
Trên bệ lò sưởi là nửa cái bánh ngọt đã sẵn sàng (thành quả của một vụ cướp kho đồ ăn thành công) và một chai nước cam thảo. Thứ đồ uống này được chế biến bằng cách lắc một miếng cam thảo trong nước. Nó rất được lòng băng Giang Hồ mà William là một thành viên, băng đảng này thường bí mật gặp nhau vào ngày nghỉ nửa buổi hằng tuần tại kho thóc bỏ hoang cách nhà William gần nửa kilomet.
Cho tới nay băng Giang Hồ mới giới hạn những hoạt động của mình ở những trận đấu vật, những trò phiêu lưu và những thí nghiệm ẩm thực. Tuần trước, cả bọn đã chế biến hai cái xúc xích mà William thó được từ kho đồ ăn nhân một tối bác bếp đi chơi và nhét vào dưới lớp áo, cạnh lớp da để vận chuyển tới kho thóc. Có lẽ nói “chế biến” cũng hơi quá lời. Nói cho chính xác hơn thì chúng đã hơ chỗ xúc xích trên đống lửa khói mù mịt cho tới khi nó đen sì, và rồi tiêu thụ nốt những phần còn sót lại vốn đã hóa thành than một cách vô cùng ngon miệng.
William nhét chai nước cam thảo vào một túi và nửa cái bánh ngọt vào túi còn lại và chuẩn bị rời khỏi nhà với phong cách lén lút như thường lệ - chui qua cửa sổ nhà tắm ra mái phòng rửa bát rồi trèo đường ống nước xuống vườn sau. Ngay cả khi không bị nửa cái bánh ăn trộm được gây trở ngại, William vẫn ưng thoát ra bằng lối này hơn cái kiểu bước ra cửa trước quá ư đơn giản kia. Tuy nhiên, khi vừa tiếp đất, nó nghe có tiếng mở cửa trước, rồi tiếng chào hỏi hồ hởi trong sảnh.
“Ôi! Tôi rất vui vì chị đã đến chơi, chị yêu quý. Và có phải cháu bé đây không? Yêu quá! Xem nào, bé bi, cháu có khỏe không hả bé bi? Chu choa.”
Đó là tiếng của mẹ William.
“Ôi, chết tiệt!” William thốt lên và vội vã về phòng. Nó ngồi xuống giường chờ cho tới khi không còn gì cản đường nữa. Ngay sau đó có tiếng chân bước lên cầu thang.
“Ôi, William,” mẹ nó vừa đặt chân vào phòng đã lên tiếng, “chiều nay có cô Butler và con cô ấy tới chơi, hai chúng ta đã định cùng đứa bé ra ngoài cho tới giờ trà chiều, nhưng mà cô ấy lại bị đau đầu. Mẹ đã cố nài cô ấy nằm nghỉ trong phòng khách hết buổi chiều nay. Nhưng cô ấy lại rất lo rằng đứa bé không được ra ngoài chơi trong một buổi chiều đẹp như thế này.”
“Ồ!” William nói, chẳng hề bận tâm.
“Mà bác bếp đã ra ngoài, Emma phải chuẩn bị bữa trà và mở cửa đón khách, còn Ethel thì đi vắng, nên mẹ đã bảo cô Butler rằng mẹ chắc chắn con sẽ sẵn lòng đẩy xe nôi đưa em bé ra ngoài chơi một lúc.”
William nhìn bà chằm chằm, chết lặng. Biểu cảm ghê rợn kinh điển của nữ thần đầu rắn Medusa chẳng là gì so với vẻ mặt William lúc đó. Rồi nó liếm môi và nói bằng giọng khản đặc.
“Con ấy ạ?” cậu bé nói. “Con ấy ạ? Con đẩy xe nôi đưa đứa oắt đó đi chơi ấy ạ?”
“Thôi nào, con yêu,” mẹ nó nói giọng khẩn cầu, “mẹ biết hôm nay là ngày nghỉ nửa buổi của con, nhưng con sẽ được ra ngoài hít thở không khí trong lành, chẳng phải là rất hay à. Em bé rất ngoan và cái xe nôi cũng rất tử tế, không nặng tí nào đâu, và cô Butler hẳn sẽ rất biết ơn con.”
“Vâng, thì tất nhiên là cô ấy phải thấy vậy rồi,” William nói vẻ chua chát. “Con mà đẩy xe nôi đưa đứa oắt đó ra ngoài thì cô ấy thấy vậy là đúng rồi.”
“Nào, William, mẹ chắc con sẽ vui lòng giúp, và mẹ cũng chắc rằng con không muốn chuyện con không chịu làm một việc cỏn con như vậy hộ cô Butler tội nghiệp đến tai bố đâu. Mà cô ấy còn đang đau đầu đến như thế.”
“Một việc cỏn con như vậy!” William nhắc lại với nỗi cay đắng từ tận tâm can.
Nhưng Định mệnh đã an bài. Nó biết mình sẽ không thể biết tới hai chữ bình yên cho đến khi hoàn thành cái yêu cầu khủng khiếp kia. Một cách âu sầu và miễn cưỡng, nó đành phải đầu hàng trước điều không thể tránh khỏi ấy.
“Được rồi,” nó lẩm bẩm, “con sẽ xuống ngay đây.”
Nó nghe tiếng mọi người nhặng xị cả lên vì đứa bé ở trong sảnh. Rồi nó nghe thấy giọng ông anh trai.
“Mẹ đùa à,” Robert nói với vẻ trịch thượng của một đấng bề trên tuổi mười tám, “mẹ sẽ tin tưởng giao đứa trẻ đó cho... William thật ư?”
“Thôi nào,” mẹ William nói, “phải có ai đó đưa em bé ra ngoài chứ. Chiều nay thời tiết đẹp đến vậy cơ mà. Mẹ chắc rằng William có thiện ý, lại còn vào đúng hôm nghỉ nửa buổi của em nó. Với cả cô ấy lại đau đầu đến như vậy.”
“À vâng, tất nhiên rồi,” Robert nói với giọng điệu của một kẻ phủi tay sạch sẽ khỏi mọi trách nhiệm sau này, “mẹ cũng hiểu William rõ như con mà.”
“Ôi trời!” mẹ William thở dài. “Mọi thứ đã được sắp xếp đâu vào đấy rồi, Robert ạ, thế mà con còn phải đến mà bới lỗi ra. Nếu con không muốn William đưa em bé ra ngoài thì con sẽ tự mình đưa em đi chơi nhé?”
Robert vội vã lui vào phòng ăn và tiếp tục cuộc đối thoại từ xa.
“Con không muốn tự mình đưa nó ra ngoài đâu - tuy vậy con vẫn xin cảm ơn mẹ rất nhiều! Ý con chỉ là... mẹ cũng hiểu William rõ như con mà. Con không bới lỗi gì hết. Con chỉ nêu ra một thực tế thôi.”
Rồi William đi xuống cầu thang.
“Thằng bé đây rồi, con yêu, mọi thứ đã sẵn sàng, và con không phải đi đâu xa đâu - chỉ đi xuôi đi ngược con đường này thôi, nếu con thích, nhưng nhớ phải ở ngoài cho tới giờ trà chiều đấy nhé. Quả là một em bé xinh xắn đáng yêu phải không nào? Và chẳng phải Billy-Willy cũng là một bé bi dễ thương hay sao, đưa em bé ra ngoài vui chơi xả hơi trong lúc ma ma đi một tí tí, bé bi nhỉ?”
William đỏ mặt vì tột cùng xấu hổ.
Nó đẩy chiếc xe nôi xuống cuối đường rồi rẽ ở góc phố. So với cảm giác của Willy, hẳn là cảm giác của những kẻ tử vì đạo ngày xưa còn hạnh phúc chán. Thật là cách hay ho để một dân giang hồ sống qua buổi chiều! Nó sợ phải gặp bất kỳ ai trong số các anh em giang hồ, thế nhưng, một cách không thể cưỡng lại được và như nam châm hút, địa điểm họp mặt của cả bọn vẫn quyến rũ nó. Nó đẩy chiếc xe nôi khỏi đường cái và rẽ xuống con đường làng nhỏ hướng về phía cánh đồng nơi có kho thóc linh thiêng của băng. Nó dừng lại ở bậc rào dẫn ra cánh đồng và nhìn đăm đăm đầy vẻ bâng khuâng về phía kho thóc xa xa. Đứa nhóc ngồi mút ngón tay cái và nhìn nó chòng chọc. Cuối cùng nó bắt đầu hội thoại.
Ba - ba - ba - ba - bô - bô - bô!””
“Ôi, mày im đi!” William sẵng giọng.
Đứa nhóc bực bội vì tự dưng phải dừng lại rõ lâu, nó túm lấy tấm màn che xe nôi, giật ra khỏi móc và ném viu xuống đường. Trong khi William nhặt tấm vải lên, đứa nhóc ném cái gối vào đầu thằng bé. Rồi đứa oắt đó cười khoái trá. William bắt đầu thấy không ưa đứa nhóc ra mặt. Chợt một Ý Tưởng Lớn lóe lên trong đầu nó.
Khuôn mặt nó rạng rỡ hẳn lên. Nó rút từ trong túi ra một mẩu dây và cẩn thận buộc chiếc xe nôi vào rào chắn. Rồi, thận trọng và rón rén bế đứa nhóc ra, nó cùng đứa nhóc trèo lên bậc rào, băng qua cánh đồng hướng về phía kho thóc. Nó ôm đứa nhóc vào ngực, hai tay siết chặt quanh eo đứa nhóc. Hai bàn chân đứa nhóc đung đưa trong không trung. Đứa nhóc tiêu khiển bằng việc đá vào bụng William, giật tóc nó và chọc ngón tay vào mắt nó.
“Mình không tài nào hiểu nổi,” William thở hổn hển nghĩ thầm, “mọi người thấy cái gì ở mấy em bé cơ chứ! Cào cấu và đấm đá và chọc mù mắt người khác và giật tung cả tóc người ta ra!”
Khi bước vào kho thóc, nó được chào đón bằng sự im lặng tuyệt đối.
“Nhìn kìa!” một kẻ giang hồ lên tiếng với vẻ phẫn nộ như đúng rồi.
“Đây là một vụ bắt cóc,” William đắc chí nói. “Chúng ta sẽ đòi tiền chuộc.”
Cả lũ nhìn nó chăm chăm đầy nể sợ và ngưỡng mộ. Đây quả là tinh hoa của chất giang hồ. Nó đặt đứa nhóc lên sàn, đứa nhóc chập chững đi được vài bước rồi đột nhiên ngồi phịch xuống. Đứa nhóc bắt đầu nhìn chòng chọc vào thằng bé cao nhất có mặt ở đó và nở nụ cười thiên thần.
“Bố - bố - bố - bố - bố - bố!”
Douglas, thằng bé cao nhất, nhe răng cười bẽn lẽn. “Nó nghĩ tớ là bố nó,” nó giải thích một cách mãn nguyện với đồng đảng.
“Xem nào,” Henry, vốn là đối thủ của William cho chức thủ lĩnh băng Giang Hồ, lên tiếng, “chúng ta phải làm gì trước tiên? Đó mới là vấn đề.”
“Trong truyện,” kẻ giang hồ tên Ginger nói, “người ta viết thư cho người thân của con tin và đòi một khoản tiền chuộc.”
“Chúng ta sẽ không làm thế, không phải ngay lúc này,” William vội vã nói.
“Thôi nào, thật vô nghĩa khi giữ một thứ để đòi tiền chuộc mà lại không báo cho người ta biết để trả tiền hay làm gì đó, phải không?” Ginger nói với thái độ của một người có logic không thể bị lung lay.
“Đú...úng”, William đáp. “Nhưng...” và một tia hy vọng lóe lên, “ai có giấy bút nào? Tớ chỉ nêu ra một thực tế thôi. Ai có giấy bút đâu nào?”
Không ai nói gì.
“Ồ, được đấy!” William đắc thắng nói tiếp. “Làm đi! Viết thư xem nào. Viết thư mà không có giấy bút đi, tất cả chúng tớ sẽ chống mắt lên xem. Hứ!”
“Thôi đi,” Ginger hờn dỗi nói, “tớ không nghĩ hồi xưa dân giang hồ lại dùng giấy bút. Chúng chưa được phát minh. Người ta viết lên... lên... lên lá hay cái gì đấy,” nó dứt lời một cách mơ hồ.
“Rồi, thế thì làm đi. Viết lên lá đi,” William nói, càng thêm đắc thắng.
“Chúng tớ có ngăn cản cậu đâu, phải không? Tớ chỉ nêu ra một thực tế thôi. Viết lên lá đi.”
Cả hai bị ngắt lời bởi một tiếng hét đau đớn từ Douglas. Hãnh diện vì mối quan hệ cha con được thiết lập ngay tức thì với đứa nhóc, nó đã liều mình làm quen thêm tí nữa. Nhớ mang máng cái cách mẹ nó chăm sóc trẻ sơ sinh, nó đã đưa một ngón tay vào mồm đứa nhóc. Đức nhóc lại tình cờ sở hữu bốn cái răng cửa, hai trên hai dưới, và những cái răng đóng phập một phát như mỏ kẹp lên ngón tay Douglas. Giờ thì thằng bé đang săm soi vết cắn.
“Nhìn xem! Sâu hoắm đây này! Thấy không? Các cậu nghĩ gì hả? Gần chạm tới xương ấy chứ! Cậu tha đến một đứa nhóc hơi bị đầu gấu đấy,” nó nói với William.
“Tớ quá biết điều đó rồi,” William nói đầy xúc cảm. “Ai bảo cậu tự dưng đi sờ vào nó cơ. Nếu mặc kệ nó thì không sao đâu. Đừng sờ vào nó, thế thôi. Dù sao đi nữa nó cũng là của tớ, và tớ chưa bao giờ nói rằng cậu có thể đùa nghịch với nó, đúng không? Nó sẽ không cắn tớ đâu, tớ cá là như thế!”
“Được rồi, thế còn khoản tiền chuộc thì sao?” Henry khăng khăng.
“Ai đó đi báo với người thân của nó rồi mang tiền chuộc trở lại đây,” Ginger đề xuất.
Một khoảng im lặng ngắn ngủi. Rồi Douglas rút ngón tay ra khỏi mồm và hỏi thẳng:
“Ai?”
“William đã mang nó đến,” Henry gợi ý.
“Phải, nên tớ cá là tớ đã làm xong phần mình.”
“Được rồi, thế thì ai sẽ làm việc này, tớ rất muốn biết đấy? Đi vòng vòng tới từng nhà một ở cái nơi cũ rích này và hỏi xem có phải họ có một đứa bé vừa bị cuỗm đi không và liệu họ sẽ trả một khoản tiền để chuộc nó về chứ? Nghe có lý quá nhỉ? Cậu biết cậu thó nó từ đâu, phải không, nên cậu có thể đi lấy tiền chuộc về.”
“Tớ có thể, nhưng tớ sẽ không làm,” cuối cùng William nói. “Tớ chỉ nêu ra một thực tế như vậy đấy. Tớ sẽ không làm. Và nếu đứa nào bảo là tớ không dám” (liếc quanh với vẻ gây gổ) “tớ sẽ thụi cho nó vài phát.”
Không ai nói rằng thằng bé không dám. Sự thật đã hiển nhiên đến mức chả cần phải nêu ra. Henry vội vã chuyển chủ đề.
“Dù sao thì, chúng ta đã mang gì đến cho bữa tiệc nào?”
William đóng góp nước cam thảo và nửa cái bánh ngọt, Douglas hai lát thịt sống và một cái bánh quy cho chó, Ginger một ít bỏng ngô và vài củ khoai tây luộc nguội ngắt gói trong giấy báo, Henry một cái bánh bao nhân táo hấp đã nguội cùng với một chai dầu hỏa nhỏ.
“Thể nào đám củi cũng bị ẩm sau trận mưa. Cái này là để nhóm lửa. Có lý, phải không nào?”
“Có mỗi một thứ để chế biến,” Ginger nói vẻ buồn rầu, nhìn những lát thịt.
“Chúng ta có thể chế biến chỗ khoai tây và cái bánh bao. Trông chúng chưa chín lắm đâu. Mình đặt đồ ăn lên sàn và đi ra ngoài thám hiểm trước đã. Mỗi người một đường khác nhau và quay trở lại đây sau mười lăm phút nhé.”
Nói chung băng Giang Hồ thường dành một phần buổi chiều tản ra để phiêu lưu. Tính tới nay chúng đã theo đuổi Nữ thần Hiểm nguy chủ yếu bằng cách xâm nhập vào vùng đất của những người nông dân nóng nảy với hy vọng sẽ bị đuổi bắt mà nhìn chung là được đáp ứng.
Chúng đặt đống đồ lên mặt đất trong góc kho thóc, và sau khi liếc vội “con tin” đang hí hửng ngồi trên sàn say sưa gặm dây mũ của mình, chúng đi ra ngoài và cẩn thận đóng cửa lại.
Sau mười lăm phút Ginger và William trở lại chỗ cánh cửa cùng một lúc từ hai hướng ngược nhau.
“Có được gì không?”
“Không.”
“Tớ cũng vậy. Thôi đi nhóm lửa nào.”
Cả hai mở cửa và đi vào. Đứa nhóc đang ngồi trên sàn quanh đống đồ, hay nói đúng hơn là những gì còn sót lại của đống đồ. Tóc tai, mặt mũi, tay chân, yếm dãi của nó dính đầy dầu. Cả người nó ướt đẫm toàn dầu hỏa. Chai dầu rỗng và chiếc mũ của nó nằm lăn lóc bên cạnh. Trộn lẫn với dầu hỏa dính khắp người nó là chỗ khoai tây luộc nguội ngắt. Đứa nhóc đang cầm chiếc bánh bao táo trong tay.
“Bóng!” nó phấn khích thông báo phía sau lớp mặt nạ làm bằng khoai tây và dầu hỏa.
Hai thằng nhóc đứng như trời trồng mất một lúc. Và rồi, “Ai sẽ đi nhóm lửa bây giờ?” Ginger nói, nhìn chằm chằm vào cái chai rỗng.
“Ừ,” William chậm rãi nói, “và ai sẽ đưa đứa nhóc đó về nhà? Tớ chỉ nêu ra một thực tế thôi. Ai sẽ đưa đứa nhóc đó về nhà đây?”
Rõ ràng là một khi William đã hạ cố sử dụng một cụm từ trong vốn từ vựng của bất kỳ ai trong nhà là thể nào nó cũng sẽ dùng quá liều.
“Xem nào, nó tự gây ra đấy chứ. Đây không phải lỗi của ai khác, phải không?”
“Không, không phải” William nói. “Nhưng đó là điều mọi người sẽ không bao giờ hiểu được. Dù sao thì tớ cũng đi rửa mặt cho nó cái đã.”
“Bằng cái gì?”
William rút ra một cái khăn tay cáu bẩn và tiến về phía con mồi. Chai nước cam thảo của nó vẫn đang nằm nguyên vẹn trong góc. Nó rút nút chai ra.
“Cậu định rửa bằng cái thứ bẩn thỉu đấy á?”
“Nó được làm từ nước - nước sạch - tớ tự làm, nên tớ cá là tớ phải biết rõ, đúng không? Đó là thứ mọi người thường dùng để tắm rửa còn gì - nước sạch ấy?”
“Ừ,” Ginger cay đắng nói, “và chúng mình sẽ uống gì đây, tớ rất muốn biết đấy? Cậu nghĩ là đứa nhóc này đã ngốn chưa đủ đồ của chúng ta - khoai tây của chúng ta và bánh bao táo của chúng ta và dầu của chúng ta - hay sao mà còn định cho nó nốt chỗ nước cam thảo này.”
William đang xoa chiếc khăn tay thấm nước cam thảo lên khắp mặt đứa nhóc. Đứa nhóc đã ngậm chặt một góc khăn giữa hai hàm răng và không chịu nhả ra.
“Nếu cậu phải đưa đứa nhóc về nhà trong tình trạng thế này,” William nói “cậu sẽ không bận tâm nhiều về việc uống nước cam thảo nữa đâu. Tớ chỉ nêu ra...”
“Ôi, cậu có thôi cái câu đấy đi không thì bảo!” Ginger đột nhiên nổi khùng. “Tớ nghe đến phát chán rồi.”
Đúng lúc đó cánh cửa mở tung, và một con bò to đùng chậm rãi bước vào, theo sát phía sau là Henry và Douglas.
Khuôn mặt Henry rạng rỡ đắc thắng. Nó cảm thấy uy tín của mình, vừa bị lu mờ bởi vụ bắt cóc ngoạn mục của William, đã được phục hồi.
“Tớ vừa chôm được một con bò.” nó thông báo, “rước nó về đây từ tít tận cánh đồng của bác nông dân Litton - đi lố mất năm cánh đồng, lại tốn thêm bao nhiêu công đem nó về nữa.”
“Được rồi, để làm gì?” William nói sau một hồi im lặng.
Henry cười phá lên vẻ trịch thượng.
“Để làm gì! Chắc cậu chưa đọc đủ về những kẻ giang hồ rồi. Họ luôn dẫn gia súc từ khắp các vùng lân cận về.”
“Được rồi, để làm gì?” William nhắc lại lần nữa, giật mạnh cái khăn tay ra, nhưng đứa nhóc vẫn nhất quyết không chịu buông.
“Thì... ờ... thì... để giết thịt rồi nướng lên, tớ đoán thế,” Henry nói vẻ sượng sùng.
“Được rồi, cứ làm đi,” William nói. “Giết thịt rồi nướng lên đi. Bọn tớ có cản cậu đâu, đúng không? Giết thịt rồi nướng lên đi - để rồi bị treo cổ vì tội sát sinh. Tớ đồ rằng giết bò cũng như giết người thôi, đều mắc tội sát sinh cả - trừ phi cậu là người bán thịt.”
Vớ vẻ chậm rãi và xem thường, con bò tiến về phía “con tin”, kẻ ngay lập tức nhả cái khăn tay ra và cười rạng rỡ.
“Gâu gâu!” đứa nhóc phấn khích thốt lên.
“Dù sao cũng tiếp tục bữa tiệc thôi,” Douglas nói.
“Tiệc ư!” tiếng Ginger vọng lại cay đắng. “Tiệc ư! Còn gì đâu mà tiệc với tùng! Đứa nhóc mà William tha đến đã dùng hết chỗ dầu và đống khoai tây, và nó đã bóp nát cái bánh bao táo, và William còn rửa mặt cho nó bằng nước cam thảo nữa chứ.”
Henry nhìn đứa nhóc chằm chằm, làm ra vẻ thản nhiên và công bằng.
“Phải rồi - trông có vẻ như đã có người rửa mặt cho nó bằng nước cam thảo - và có vẻ như nó đã dùng hết chỗ dầu và khoai tây. Trông nó chẳng có vẻ gì là sẽ mang được về nhiều tiền chuộc. Có vẻ như cậu đã làm hỏng việc rồi.”
“Ôi, im ngay vụ đứa bé đi,” William vừa nói vừa nhặt cái khăn tay ẩm ướt giờ đã ngả sang màu mận chín lên. “Tớ phát chán lên rồi. Tiếp tục nhóm lửa đi.”
Chúng dựng lên một đống cành khô nho nhỏ trên đồng và bắt đầu quá trình nhóm lửa.
“Tớ hy vọng con bò sẽ không làm hại ‘con tin’,” Douglas đột nhiên nói.
“Đi kiểm tra đi, William; đấy là con tin của cậu mà.”
“Ơ nhưng mà đấy là con bò của Henry, và tớ sẽ lấy làm tiếc cho con bò nếu nó thử giở bất kỳ trò gì với đứa bé.”
Nhưng nó vẫn miễn cưỡng đứng lên và mở cửa kho thóc. Con bò và đứa nhóc vẫn đang nhìn nhau chăm chăm đầy vẻ ngưỡng mộ. Từ mồm con bò, ở phía cuối dây nơ dài đẫm nước treo lủng lẳng phần còn sót lại của chiếc mũ em bé đã bị gặm nát. Đứa nhóc đang cầm cái bánh quy cho chó và vui sướng nói bi bô trong lúc con bò cúi đầu và thận trọng, rón rén ngửi ngửi nó. Khi William bước vào, con bò quay lại và ve vẩy cái đuôi vào đầu đứa nhóc. Nghe thấy tiếng ré lên the thé sau đó, cả băng Giang Hồ bước vào kho thóc.
“Cậu làm gì đứa nhỏ tội nghiệp đó vậy?” Douglas nói với William.
“Con bò của Henry đấy chứ,” William tuyệt vọng nói. “Nó đá phải đứa nhóc rồi. Ôi, thôi nào, im đi! Im ngay đi.”
Tiếng ré to lên gấp đôi.
“Cậu đã mang nó tới đây,” Henry cao giọng buộc tội để lấn át cơn thịnh nộ và uất ức của đứa nhóc. “Cậu không làm cho nó nín đi được à? Thật điên rồ khi tha trẻ con đi khắp nơi mà không biết làm thế nào để nó ngừng khóc!”
Mặt đứa nhóc giờ đã trở nên tím tái.
Băng Giang Hồ bất lực đứng quanh nhìn.
“Có thể là nó đói,” Douglas đề xuất.
Nó cầm lấy nửa cái bánh ngọt còn sót lại trong đống đồ và ngập ngừng chìa về phía đứa nhóc. Đứa nhóc đột nhiên nín khóc.
“Bố - bố - bố - bố - bố - bố,” nó nói, mắt đẫm lệ.
Douglas đỏ mặt và nhe răng cười.
“Nó cứ nghĩ tớ là bố nó cơ,” nó nói, chắc mẩm rằng mình hơn người.
“Đây, muốn ăn bánh không?”
Đứa bé bẻ một nắm và đút vào mồm.
“Nó đang ăn đấy,” Douglas hét lên the thé vì phấn khích. Tuy nhiên, sau khi đã nhai kỹ, đứa nhóc cảm thấy ân hận về sự hạ cố của mình và nhè cái nắm đó ra ngay lập tức.
William đỏ mặt xấu hổ vì nó.
“Ôi, thôi nào, hãy đi xem đống lửa thế nào rồi,” nó nói một cách yếu ớt.
Cả bọn rời kho thóc và trở về hiện trường nhóm lửa. Con bò, mồm vẫn đung đưa phần còn lại từ chiếc mũ của đứa nhóc, đang đứng giẫm hai chân trước lên những gì còn sót lại của thứ đã từng hứa hẹn sẽ là một đống lửa ra trò.
“Nhìn kìa!” William thét lên trong niềm vui sướng không giấu giếm.
“Nhìn con bò của Henry kìa! Cậu mang tới một con bò hơi bị được đấy, Henry. Thật điên rồ khi tha bò đi khắp nơi mà không biết làm thế nào để ngăn chúng đừng dập lửa của người khác.”
Sau một cuộc cãi vã nảy lửa, băng Giang Hồ hướng sự chú ý về phía con bò. Con bò quyết không chịu bị “đuổi đi”. Nó chỉ đứng im không nhúc nhích và nhìn cả bọn chằm chằm. Ginger thận trọng tiến lại gần và đẩy nó một tí. Nó ve vẩy cái đuôi vào mắt thằng bé và tiếp tục nhai dây mũ của đứa nhóc. Khi William tiến lại gần, nó cúi đầu xuống và William vội vã lui lại. Cuối cùng chúng đành đi nhặt thêm một ít củi tươi và nhóm một đám lửa mới. Ngay sau đó cả bọn sung sướng tiêu thụ hết hai lát thịt đen sì, bỏng ngô và phần còn lại của chiếc bánh ngọt.
Sau “bữa tiệc”, Ginger và William, đóng vai thổ dân da đỏ, tấn công kho thóc được trấn thủ bởi Douglas và Henry. “Con tin” bò lồm cồm ở bên trong, nhặt bất cứ vật gì nó tình cờ trông thấy trên đường và xem thử tác động của những thứ này đến khẩu vị của nó.
Thi thoảng đứa nhóc lại đối thoại với hai kẻ phòng thủ, mang theo mình mùi dầu hỏa nồng nặc mỗi khi nó lại gần.
“Ba - ba - ba - ba - bi - bi - bố - bố - bố - bố - bố. Đi...i...i...i.”
Trước đó William đã khăng khăng đòi làm bên tấn công.
“Tớ không thể đào đâu ra cảm xúc,” nó phân bua, “để mà chiến đấu bảo vệ đứa nhóc đó.”
Khi cả bọn cuối cùng cũng quyết định trở về nhà, William nhìn chằm chằm một cách vô vọng vào cục nợ của mình. Vẻ ngoài của nó đúng là không thể tả nổi. Trong rất nhiều năm sau đó, mỗi khi nghĩ về trẻ con là William lại liên tưởng đến dầu hỏa và khoai tây.
“Giúp tớ gỡ đống khoai tây ra khỏi tóc nó đi mà,” nó khẩn khoản, “mặc kệ chỗ dầu và những thứ còn lại.”
“Cái mũ của tớ! Ngửi xem nó có mùi kỳ khôi không này! - và trông nó cũng kỳ khôi không kém - toàn dầu với khoai tây với vụn bánh?” Ginger nói.
“Ôi! Im ngay đi,” William nói vẻ cáu kỉnh.
Con bò đi theo cả bọn đến tận bậc rào và nhìn chúng trèo lên một cách nhạo báng.
“Gâu gâu!” đứa nhóc lẩm bẩm chào tạm biệt rất nồng thắm.
William điên cuồng nhìn xung quanh để tìm cái xe nôi, nhưng... cái xe nôi đã không cánh mà bay, chỉ còn mỗi mẩu dây lủng lẳng trên hàng rào.
“Giồi ôi!” William nói. “Thật là xúi quẩy! Mình chỉ nêu ra một thực tế thôi. Thật là xúi quẩy!”
Đúng lúc đó cái xe nôi xuất hiện, lăn từ trên đồi xuống với vận tốc đa, bên trên chở một đám các cậu choai. Đến chân đồi, cái nôi cùng đống hàng đổ nhào xuống mương. Nhìn qua là biết cái nôi đã phải thực hiện quy trình này cả buổi chiều.
“Đấy là cái xe nôi của tớ!” William nói với đống hàng ngay khi chúng vừa hớn ha hớn hở thò đầu lên từ dưới mương.
“Còn lâu! Của bọn tớ mà! Bọn tớ đã tìm thấy nó.”
“Nhưng chính tớ đã để nó ở đây.”
“Tiến lên! Chúng ta sẽ chiến đấu giành lại nó,” Ginger nói, xắn tay áo lên với tác phong đâu ra đấy. Những kẻ giang hồ khác làm theo nó. Đống hàng trên chiếc xe nôi săm soi chúng vẻ thăm dò.
“Ôi, thôi được rồi! Lấy lại cái xe nôi cũ kỹ tồi tàn của các cậu đi!” chúng lên tiếng sau một hồi lâu.
Douglas đặt đứa nhóc vào nôi và William ân cần kéo mui xe lên để che chắn cho cục nợ của nó khỏi ánh mắt hiếu kỳ của người qua đường. Cục nợ của nó giờ đang nhai tấm màn xe nôi và độc thoại đầy hưng phấn. Với một “trái tim vững vàng trước mọi điều sẽ xảy đến”, William rẽ ở góc phố rồi đi dọc con đường về nhà mình. Mẹ của đứa nhóc đang đứng trước cổng nhà William.
“Cháu đây rồi!” bà gọi. “Cô sốt ruột quá đi mất. Cảm ơn cháu rất nhiều, cháu yêu.”
NHƯNG ĐÓ LÀ NHỮNG GÌ BÀ NÓI TRƯỚC KHI NHÌN THẤY ĐỨA BÉ!
Còn tiếp...
(Trích bộ truyện "Đích thị William" của Richmal Crompton, do Nhã Nam và NXB Hội nhà văn ấn hành).