Đề xuất bảo hiểm y tế gánh một phần chi phí chữa vô sinh
Chi phí điều trị vô sinh, hiếm muộn tại Việt Nam vượt khả năng tài chính của không ít gia đình, chuyên gia đề xuất BHYT từng bước chi trả phí khám, xét nghiệm và các đợt chữa nhằm giúp người bệnh giảm bớt áp lực kinh tế.
GS.TS Nguyễn Viết Tiến, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế, Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam (VAGO), nêu đề xuất này ngày 31/10 tại hội nghị khoa học quốc tế Fertility acadeMe Conference 2026 do VAGO phối hợp cùng Liên đoàn Quốc tế các Hiệp hội Hỗ trợ Sinh sản và Merck Healthcare Việt Nam tổ chức hôm 31/10. Sự kiện diễn ra ở diễn đàn quy tụ hơn 200 chuyên gia hỗ trợ sinh sản trong nước và quốc tế.
GS.TS Nguyễn Viết Tiến, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế, Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam, chia sẻ tại hội nghị. Ảnh: Nguyên Thanh
Theo ông Tiến, rào cản lớn nhất ngăn các cặp vợ chồng tiếp cận kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nằm ở giá dịch vụ. Mỗi ca thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) – kỹ thuật lấy trứng và tinh trùng cho thụ tinh bên ngoài cơ thể rồi đưa phôi vào tử cung – tiêu tốn khoảng 70-100 triệu đồng. Ca bệnh phức tạp đòi hỏi làm nhiều đợt, đội mức chi phí lên gấp nhiều lần. Không ít người buộc phải từ bỏ giấc mơ làm cha mẹ vì kiệt quệ tài chính.
Nhà nước cần xây dựng những gói hỗ trợ cụ thể. Trước mắt, quỹ bảo hiểm y tế có thể thanh toán một phần tiền khám, xét nghiệm ban đầu hoặc trợ lực ngay trong chu kỳ thụ tinh đầu tiên, sau đó tính đến lộ trình mở rộng danh mục chi trả lâu dài. Ông Tiến nhấn mạnh: "Chúng ta cần nhìn nhận chăm sóc sức khỏe sinh sản là một lĩnh vực quan trọng, góp phần mang lại hạnh phúc cho các gia đình. Cần thay đổi quan điểm, xem hỗ trợ sinh sản là nhiệm vụ chiến lược lâu dài, từ đó có chính sách ưu tiên và hỗ trợ thiết thực hơn cho người dân".
Nhiều nước trên thế giới đã áp dụng cơ chế này. Pháp đài thọ tối đa 4 đợt làm thụ tinh ống nghiệm cho người dân, người bệnh tự trả tiền từ đợt thứ 5. Trung Quốc cũng đưa nhiều khâu kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vào danh mục bảo hiểm y tế từ năm 2022.
Kiến nghị hỗ trợ tài chính xuất hiện giữa thời điểm Việt Nam ghi nhận hơn một triệu cặp vợ chồng đối mặt với tình trạng khó có con. Cùng lúc, tỷ suất sinh ở mức thấp đè nặng lên chiến lược dân số. Số con trung bình của một phụ nữ Việt Nam năm 2025 đạt 1,93, dù nhích nhẹ so với mức 1,91 của năm 2024 song vẫn nằm dưới ngưỡng sinh thay thế 2,1 con.
Áp lực công việc và xu hướng kết hôn muộn khiến sức khỏe sinh sản suy giảm rõ rệt. Tuổi tác tăng làm giảm chất lượng trứng và tinh trùng, đồng thời kéo theo nguy cơ sai lệch di truyền ở phôi thai. Rượu bia, thuốc lá, khói bụi ô nhiễm và thói quen sinh hoạt thiếu điều độ cũng làm giảm khả năng đậu thai tự nhiên.
Để tháo gỡ tận gốc vấn đề, ông Tiến đề nghị ngành y tế đẩy mạnh tuyên truyền để người trẻ hiểu rõ tác động tiêu cực của tuổi tác đến khả năng sinh nở. Các cơ quan chức năng cần tổ chức khám sàng lọc diện rộng cho công nhân tại các khu công nghiệp và cư dân vùng đông dân. Giải pháp tầm soát tập trung này giúp phát hiện sớm nguy cơ hiếm muộn, đồng thời tiết kiệm tiền bạc hơn nhiều so với việc từng người tự đi khám đơn lẻ.
Bà Miranda Hickey – Giám đốc Y khoa, Ngành hàng Hỗ trợ Sinh sản, Merck Healthcare Châu Á Thái Bình Dương, phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Nguyễn Thanh
Song song với bài toán viện phí, hội nghị nhấn mạnh yêu cầu xây dựng phác đồ điều trị riêng cho từng ca bệnh. GS Eileen Manalo, Phó tổng thư ký Liên đoàn Quốc tế các Hiệp hội Hỗ trợ Sinh sản, kêu gọi áp dụng mô hình chăm sóc phối hợp giữa y khoa, tâm lý và xã hội. Cách làm này giúp người bệnh không bỏ dở liệu trình giữa chừng, đồng thời dỡ bỏ các rào cản chính sách đang ngăn họ tiếp cận dịch vụ y tế.
Đồng quan điểm, bà Miranda Hickey – Giám đốc Y khoa, Ngành hàng Hỗ trợ Sinh sản, Merck Healthcare Châu Á Thái Bình Dương, cho rằng mỗi gia đình mang một hoàn cảnh và kỳ vọng riêng, đòi hỏi giới chuyên môn liên tục chia sẻ dữ liệu khoa học để đưa các kỹ thuật hiện đại đến gần người bệnh hơn.
Việt Nam hiện vận hành hơn 50 trung tâm hỗ trợ sinh sản. Các cơ sở này làm chủ hầu hết kỹ thuật cao gồm thụ tinh trong ống nghiệm, tiêm tinh trùng trực tiếp vào bào tương trứng (ICSI) hay trữ đông phôi và trứng. Tỷ lệ điều trị thành công tại các cơ sở trong nước tương đương mặt bằng chung của thế giới.
Lê Nga