Núi Đồng Mười nằm trong hệ thống núi đá vôi liên hoàn, cạnh vườn quốc gia Bến En. Hiện núi được bao phủ bởi hệ cây rừng lúp xúp, trở thành địa chỉ tham quan, nghiên cứu thường xuyên của các nhà sử học, quân nhân và du khách thập phương.
Trước khi vào cửa hang Đồng Mười, khách phải men theo con đường nhỏ dưới chân núi, sau đó băng qua một vòm đá được tạo hình tự nhiên như chiếc cổng chào nhỏ.
Hang Đồng Mười có ba ngách, lớn nhất là hang chính rộng khoảng 30 m, dài hơn 62 m, chỗ cao nhất hơn 15 m. Tại vị trí này, các kỹ sư đã chọn để đặt lò cao đúc gang những năm 1953-1954.
Vào năm 1953, sau khi quyết định rời lò cao vào hang Đồng Mười, các kỹ sư đã cho khoan đá, nổ hơn 400 phát mìn dọn hang nhằm mở đường cho việc di chuyển máy móc, trang thiết bị vào bên trong. Mở rộng không gian trong lòng hang giúp tạo thuận lợi xây dựng các đường thông khói, đặt quạt đẩy gió... bảo đảm cho lò cao vận hành an toàn và hiệu quả.
Do bỏ hoang trong thời gian dài, dấu tích còn lại ở di tích Lò cao Hải Vân không còn nhiều. Trong lòng hang Đồng Mười chỉ duy nhất khu lò đứng (lò ủ gang) là còn tương đối nguyên vẹn hình dáng ban đầu song lớp vỏ bằng sắt đã bị hoen rỉ, thủng lỗ chỗ nhiều vị trí.
Phần tháp lò ủ gang được gắn vào trần hang để cố định vị trí.
Khu vực lò sấy, lò gió nóng... chỉ còn nền móng hoặc vài bức tường xây bằng gạch đặc song đã bị nứt vỡ nhiều đoạn.
Cửa hầm lò xây theo kiểu mái cuốn bằng gạch, không có bê tông cốt thép.
Trên các vách đá và trần hang hiện còn lưu nhiều khẩu hiệu thi đua lao động sản xuất của cán bộ kỹ sư ngày ấy với những câu nổi bật như: "Đề cao tương trợ, đẩy mạnh sản xuất, giúp nhau kiểm điểm lấy thành tích, viết tự thuật tốt"; "Đào sâu nhớ kỹ, kiểm điểm thành tích, viết tự thuật đầy đủ, cụ thể", hay "Đẩy mạnh thi đua sản xuất tiết kiệm, tăng gia trồng trọt để chống đói; phòng đói, cứu đói, chuẩn bị tổng kết"...
Trước cửa hang Đồng Mười là khu đầm lớn chưa bao giờ cạn nước. Đây là nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất gang của bộ đội năm xưa.