H.T. -
![]() |
|
Mario Vargas Llosa và người vợ thứ hai Patricia, chụp năm 1967. Hai người kết hôn năm 1965 - một năm sau khi ông chia tay người vợ đầu tiên Julia Urquidi. Vargas Llosa và Urquidi kết hôn năm 1955. Urquidi là nguyên mẫu để ông viết cuốn tiểu thuyết năm 1977 - Aunt Julia and the Scriptwriter. |
![]() |
|
Vargas Llosa tại World Cup 1982 tại Tây Ban Nha. Lúc này, ông tác nghiệp như một phóng viên thể thao. |
![]() |
|
Nhà văn trong cuộc vận động tranh cử năm 1990. |
![]() |
|
Vargas Llosa chuẩn bị phát biểu vận động tranh cử. Vợ ông đang chỉnh trang ngoại hình cho ông. |
![]() |
|
Nhà văn bàn bạc với đạo diễn Joan Olle về việc chuyển thể vở kịch La của ông tại Tây Ban Nha năm 2006. |
![]() |
|
Vargas Llosa tại London năm 2007. |
![]() |
|
Vargas Llosa nhận danh hiệu Tiến sĩ danh dự tại Đại học Simon Bolivar ở Caracas, Venezuela năm 2008. |
![]() |
|
Vargas Llosa tại buổi họp báo giới thiệu cuốn The Liberty and the Life năm 2009. |
![]() |
|
Vargas Llosa tại nhà riêng ở Lima (Peru) năm 2009. Ông mặc bộ quần áo làm từ giấy tái chế để nâng cao ý thức của người dân về môi trường. |
![]() |
|
Nhà văn trong buổi giới thiệu cuốn sách Sabres and Utopias: Visions of Latin America năm 2009. |
![]() |
|
Vargas Llosa trong lúc chờ đợi nhận giải Don Quixote 2009. |
![]() |
|
Nhà văn bị báo chí vây quanh sau khi được thông báo đoạt giải Nobel. |
Ảnh: Guardian











