Công nghệ bảo tồn chức năng não khi mổ lấy u
Công nghệ hỗ trợ lập bản đồ, tìm đường tới khối u, cảnh báo nguy cơ và phóng đại trường mổ, giúp bóc tách u an toàn, bảo vệ chức năng não của người bệnh.
Theo ThS.BS Lê Văn Ngân, khoa Ngoại Thần kinh - Cột sống, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội, bốn lớp gồm MRI 3 Tesla kết hợp DTI dựng bản đồ khối u và các bó sợi thần kinh; Neuro-Navigation xác định vị trí khối u, dụng cụ và đường tiếp cận; hệ thống giám sát điện sinh lý thần kinh trong mổ (IONM) theo dõi tín hiệu chức năng, cảnh báo nguy cơ; kính vi phẫu robot Zeiss Kinevo 900 phóng đại trường mổ, hỗ trợ bóc tách mô u khỏi mạch máu, dây thần kinh và mô não lành.
Bốn hệ thống được ứng dụng nối tiếp, dữ liệu từ lớp trước hỗ trợ quyết định ở lớp sau. Chuỗi công nghệ đặc biệt hữu ích với người bệnh ung thư di căn não, khi bác sĩ cần lấy khối u, giải phóng chèn ép nhưng vẫn bảo tồn chức năng não để người bệnh tiếp tục điều trị ung thư.
"Lợi ích cuối cùng của bốn lớp công nghệ vì thế không chỉ nằm ở lượng u được lấy, mà còn ở khả năng duy trì vận động, ngôn ngữ, nhận thức và mức độ độc lập của người bệnh sau mổ", bác sĩ Ngân nói.
Êkíp phối hợp các hệ thống hình ảnh, định vị, giám sát chức năng và kính vi phẫu trong ca mổ não. Ảnh: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
Bác sĩ Ngân dẫn trường hợp ông Hậu, 67 tuổi, điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội. Người bệnh mắc ung thư phổi giai đoạn muộn, có khối u di căn tại thùy trán phải, kích thước 22 x 27 x 31 mm, chèn ép não khiến nửa người trái yếu dần.
Thách thức của ca mổ là lấy khối u nhưng tránh các đường dẫn truyền vận động ở vùng não lân cận. Vì vậy, êkíp áp dụng bốn lớp công nghệ, lần lượt trả lời các câu hỏi: khối u nằm ở đâu, nên tiếp cận theo đường nào và thao tác hiện tại có ảnh hưởng chức năng hay không.
Lớp đầu tiên được sử dụng trước khi bác sĩ mở hộp sọ. MRI 3 Tesla cung cấp hình ảnh khối u và các cấu trúc xung quanh. Kỹ thuật Diffusion Tensor Imaging (DTI) phân tích hướng khuếch tán của phân tử nước dọc theo sợi trục, từ đó dựng mô hình ba chiều của một số bó dẫn truyền thần kinh.
Bản đồ thể hiện tương quan giữa khối u với các bó sợi thần kinh đảm nhiệm vận động, cảm giác, thị giác hoặc ngôn ngữ. Với ông Hậu, dữ liệu giúp êkíp nhận diện vùng u gần đường dẫn truyền vận động và dự kiến đường tiếp cận tránh cấu trúc cần bảo tồn.
MRI kết hợp DTI dựng tương quan giữa khối u và các bó sợi thần kinh. Ảnh: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
Lớp thứ hai đưa bản đồ vào phòng mổ. Neuro-Navigation sử dụng camera theo dõi các điểm phản quang gắn trên đầu người bệnh, que định vị và dụng cụ phẫu thuật. Phần mềm đối chiếu các mốc giải phẫu thực với dữ liệu MRI, hiển thị vị trí đầu dụng cụ trên mô hình não ba chiều.
Khi bác sĩ di chuyển que định vị trên bề mặt đầu hoặc trong trường mổ, màn hình cho biết vị trí tương ứng, khoảng cách tới khối u và các bó sợi đã dựng. Êkíp có thể mô phỏng nhiều góc tiếp cận, từ đó lựa chọn vị trí mở hộp sọ và đường vào não phù hợp.
Tuy nhiên, định vị không bảo đảm dữ liệu luôn trùng khớp tuyệt đối. Sau khi mở màng cứng, hút dịch não tủy hoặc lấy một phần khối u, não có thể dịch chuyển so với phim chụp trước mổ, hiện tượng gọi là brain shift. Vì vậy, êkíp cần thêm tín hiệu chức năng phát sinh ngay trong cuộc mổ để kiểm tra giới hạn an toàn.
Lớp thứ ba là hệ thống giám sát điện sinh lý thần kinh trong mổ (IONM). Các điện cực được đặt tại những vị trí phù hợp trên cơ thể, có thể kết hợp kích thích vùng não. Hệ thống ghi liên tục đáp ứng của các đường dẫn truyền; chuyên gia theo dõi biến đổi về biên độ và thời gian dẫn truyền trên màn hình.
Trong ca ông Hậu, IONM hỗ trợ êkíp chọn điểm vào não tránh vùng vận động và theo dõi tín hiệu trong suốt quá trình lấy u. Trên màn hình, đường màu xanh lá thể hiện biên độ điện cơ nền, đường màu trắng được cập nhật trong lúc mổ. Bệnh viện cho biết tín hiệu sau lấy u không giảm so với đường nền, cho thấy đường dẫn truyền vận động được bảo toàn; phẫu thuật viên không phải điều chỉnh thao tác vì cảnh báo IONM.
Nếu tín hiệu suy giảm, êkíp phải kiểm tra nguyên nhân, từ vị trí dụng cụ, mức độ kéo căng mô, tưới máu tới các yếu tố gây mê, rồi điều chỉnh hoặc tạm dừng thao tác khi cần. IONM vì vậy không tạo thêm hình ảnh giải phẫu mà đóng vai trò như kênh cảnh báo chức năng, bổ sung cho bản đồ MRI và hệ thống định vị.
Lớp cuối cùng nằm tại trường mổ. Kính vi phẫu robot Zeiss Kinevo 900 phóng đại vùng phẫu thuật, giúp bác sĩ quan sát mạch máu, dây thần kinh, mô u và mô não qua đường tiếp cận hẹp, đồng thời thay đổi và lưu góc nhìn. Trong ca ông Hậu, kính hỗ trợ bác sĩ bóc tách dưới quan sát trực tiếp.
Sau phẫu thuật, ông Hậu không xuất hiện rối loạn chức năng thần kinh mới, tình trạng yếu nửa người trái cải thiện và có thể tự chăm sóc. Ông xuất viện sau 7 ngày, tiếp tục điều trị bằng thuốc đích. Ba tháng sau mổ, sức khỏe người bệnh ổn định.
Bác sĩ thao tác dưới kính vi phẫu Zeiss Kinevo 900. Ảnh: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
Trước ca ông Hậu, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội thực hiện 50 ca mổ u não trong năm 2025, tất cả sử dụng MRI DTI, Neuro-Navigation và kính vi phẫu. Trong số này, 15 ca có khối u nằm tại khu vực chức năng quan trọng được bổ sung IONM, tức sử dụng đủ bốn lớp công nghệ. Hơn 90% người bệnh không còn thấy u trên MRI sau mổ. Khoảng 5-10% bị rối loạn chức năng thần kinh, chủ yếu tạm thời.
Bác sĩ Ngân đánh giá bốn lớp công nghệ không loại bỏ hoàn toàn rủi ro hay quyết định thay phẫu thuật viên. Giá trị của hệ thống nằm ở việc cung cấp liên tục thông tin về giải phẫu, vị trí dụng cụ và chức năng thần kinh, giúp bác sĩ điều chỉnh từng thao tác theo diễn biến thực tế. Mục tiêu của ca mổ não vì thế không chỉ là lấy tối đa khối u mà còn bảo tồn khả năng vận động, giao tiếp, nhận thức và tự chăm sóc của người bệnh.
4 hệ thống công nghệ hỗ trợ ca mổ thần kinh. Video: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
Thanh Long