Theo ông Cole, vấn đề mấu chốt là việc lấy dấu vân tay thường thiếu tính khoa học. Kỹ thuật dấu vân tay hiện đại bắt nguồn từ Francis Galton, một nhà khoa học người Anh thế kỷ 19. Năm 1892, ông nghiên cứu các kiểu vòng xoắn, vòng cung và vòng thắt tạo nên dấu vân tay và ước lượng xác suất để hai dấu vân tay khác nhau ngẫu nhiên trùng nhau, khớp khoảng 1/64 nghìn tỷ trường hợp.
Tuy nhiên, ước lượng đó đã không được chứng minh bằng dữ liệu. Và Galton không so sánh toàn bộ dấu vân tay mà chỉ xem xét những gờ dấu vân tay kết thúc hoặc rẽ nhánh. Ngày nay, chúng được gọi là "những điểm tương đồng" hay "chi tiết Galton", và nếu hai dấu vân tay có đủ các điểm chung thì chúng được coi là một. Ước lượng của Galton dựa trên việc sử dụng mọi điểm có thể có (35-50 điểm). Còn hiện nay, tùy theo quy định của từng nước, dấu vân tay thu được tại hiện trường tội phạm được coi là trùng khớp với dấu vân tay của kẻ bị tình nghi khi có từ 8 đến 16 điểm giống nhau. Đáng tiếc là giá trị của phương pháp này và số điểm giống nhau cần có để đảm bảo độ an toàn về mặt thống kê không được xem xét một cách khoa học. Như vậy, theo ông Cole, nền tảng lý thuyết của kỹ thuật lấy dấu vân tay là không vững chắc.
Một nguyên nhân nữa khiến kỹ thuật lấy dấu vân tay không đưa ra kết quả chính xác, theo tiến sĩ Cole là dấu vân tay thu tại hiện trường phạm tội thường không trọn vẹn. Vì vậy, người ta chỉ có thể so sánh dấu vân tay của nghi can với một dấu vân tay bị khuyết. Không có một phân tích nào, kể cả của Galton, nói rằng dấu vân tay bị khuyết có thể trùng khớp với dấu vân tay của một cá nhân nào đó. Bên cạnh đó, hầu hết chứng cứ dấu vân tay thu tại hiện trường đều mang tính "ẩn". Vì thế, cần phải xử lý nó bằng hóa chất hay rọi ánh sáng cực tím để nó hiện ra đủ rõ để làm việc (thường nó chỉ hiện ra lờ mờ). Một câu hỏi chưa được xem xét đến là việc so sánh dấu vân tay rõ ràng, sạch sẽ thu từ kẻ tình nghi trong những điều kiện được kiểm soát có độ tin cậy đến mức nào?
Ít nhất là so với kỹ thuật xử lý chứng cứ DNA thì kỹ thuật lấy dấu vân tay đã bộc lộ khiếm khuyết. Và các luật sư tại Mỹ - được yểm trợ bởi quy định xác lập tiêu chuẩn chấp nhận chứng cứ khoa học trước tòa ban hành năm 1993 - bắt đầu khai thác khiếm khuyết này. Vụ án Byron Mitchell lái xe chạy trốn trong một vụ án ở bang Pensylvania năm 1991 đã tạo bước ngoặt cho sự nghi ngờ nói trên. Ông ta bị buộc tội vì tòa án dựa trên hai dấu vân tay "ẩn" trên tay lái và cần sang số của ôtô chạy trốn. Chúng được cho là chứng cứ chứng tỏ ông có tham gia vụ cướp. Năm 2000, tòa phúc thẩm tuyên y án sơ thẩm. Nhưng luật sư của ông nghi ngờ về giá trị dấu vân tay, vẫn cố gắng để "đảo ngược tình thế". Và Cục điều tra Liên bang Mỹ FBI đã gửi đến phòng thí nghiệm của 53 cơ quan bảo vệ pháp luật tiểu bang dấu vân tay "ẩn" và dấu vân các ngón tay in bằng mực của Byron Mitchell. 8 trong số 35 cơ quan đã trả lời không có sự trùng khớp nào với một trong hai dấu vân tay "ẩn"; 6 cơ quan không thấy trùng khớp với dấu vân tay "ẩn" còn lại. Tỷ lệ thất bại trung bình là 20%, điều này đã làm lung lay niềm tin của FBI. Họ cho ảnh chụp các dấu vân tay "ẩn" và các dấu vân tay lăn trên mực của ông Byron Mitchell được phóng to in trên các ống nhựa trong. Dấu đỏ đánh trên ống nhựa được coi là trùng khớp với các dấu vân tay "ẩn" và vị trí tìm thấy nó. Khi các chứng cứ "biến đổi" này được gửi đến các phòng thí nghiệm, hầu hết các chuyên gia thực hiện so sánh đã bị ám thị, và đều xác nhận các dấu vân tay thật sự trùng khớp với nhau. Dựa vào tình tiết trên, ông Cole cho rằng tính chính xác của kỹ thuật dấu vân tay cần được xem xét cẩn trọng.
(Theo Pháp Luật TP HCM)