Do thông tin chị cung cấp không đầy đủ như hợp đồng mua bán biệt thự, giấy vay tiền của chồng chị với bố chồng chị, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện được cấp cho ai, nên chúng tôi tư vấn cho chị như sau:
Theo quy định tại khoản 1 điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình quy định tài sản chung của vợ chồng: "Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung”.
Nếu vợ chồng chị mua biệt thự sau khi anh chị đã đăng ký kết hôn thì đó là tài sản chung của vợ chồng. Nếu chồng chị khai trước tòa toàn bộ tiền bỏ ra mua là của bố anh cho vay thì phải có giấy tờ để chứng minh. Nếu có căn cứ chứng minh tiền vay là của bố anh, hiện nay giấy tờ nhà đất đứng tên anh hoặc chị thì cả anh và chị cùng có trách nhiệm trả nợ.
Việc chứng minh tiền mua nhà vay của bố chồng chị là nghĩa vụ của chồng chị, nếu chồng chị không thể chứng minh thì căn biệt thự trên đương nhiên là tài sản chung của hai vợ chồng (với điều kiện việc mua bán diễn ra sau khi đăng ký kết hôn, không được tặng cho riêng, thừa kế riêng).
Nếu giấy tờ nhà đất đứng tên cả hai vợ chồng anh chị hoặc đứng tên một mình anh nhưng được hình thành sau khi anh chị đăng ký kết hôn thì khi ly hôn Tòa án sẽ chia theo quy định tại điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình: “Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này”.
Trong thời gian tòa chưa có ra quyết định ly hôn, phân chia tài sản thì hai người vẫn là vợ chồng. Chị vẫn có quyền sử dụng đối với khối tài sản này.
Việc chồng chị thay khóa cửa, không cho chị vào nhà là hành vi trái pháp luật. Theo quy định tại điểm i điều 2 Luật Phòng chống bạo lực gia đình 2007, hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở là bạo lực gia đình.
Tại khoản 1, 2 Điều 17 Nghị định 110/2009/NĐ-CP ngày 10/12/2009 quy định việc xử phạt đối với hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở hợp pháp của họ:
“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đến 300.000 đồng đối với hành vi buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở hợp pháp của họ.
2. Phạt tiền từ 500.000 đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Thường xuyên đe dọa bằng bạo lực để buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở hợp pháp của họ;
b) Buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở hợp pháp của họ vào ban đêm hoặc lúc trời mưa, bão, gió rét;
c) Thực hiện các hành vi nhằm tạo ra tình trạng khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày để buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở…”.
Chị nên làm đơn tố cáo gửi đến cơ quan công an hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra bạo lực để các cơ quan này có trách nhiệm kịp thời xử lý.
Luật sư Vũ Hải Lý
Công ty Luật Đại Việt
Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội