Vào tháng 2/1965, khi không quân Mỹ bắt đầu oanh tạc nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì dư luận chung ở Pháp, Âu châu và cả ở Liên Xô đều cho rằng hiển nhiên đất nước nhỏ bé này sẽ không thể nào chịu đựng nổi cuộc tấn công của lực lượng không quân ghê gớm nhất trên thế giới. Nhưng vì có mặt tại chỗ nên tôi đã thấy rõ sự thật. Ngay từ tháng 5, tôi điện về cho tờ báo của mình: “Người Mỹ đã thua trận khi đưa máy bay phá hủy đường sá, cầu cống, nhà máy và cả những trường học ở Bắc Việt". (Báo Nhân Đạo, ngày 14-5-1965). Ở tòa báo, người ta đã ngần ngại mãi mới cho đăng tin này, vì cho là tôi không nói thật.
Những trận ném bom khủng khiếp diễn ra cả đêm lẫn ngày. Có rất nhiều loại bom khác nhau đã được ném xuống, nhất là bom bi, loại vũ khí không có tác dụng gì đối với nhà cửa nhưng lại cực kỳ nguy hiểm đối với con người. Và ngay lúc này đây, tôi vẫn còn giữ những kỷ niệm hết sức thê thảm. Trong tất cả những bài viết của mình, tôi đều nhấn mạnh đến sự tàn ác của các cuộc oanh tạc bằng bom bi, bởi nó chỉ nhằm một mục đích là giết thường dân để làm mất tinh thần của họ.
Người dân Việt Nam đã chết rất nhiều. Họ phải chịu đựng sự đau đớn xác thịt và nhiều thiếu thốn. Tôi vẫn còn như nhìn thấy trước mắt mình từng đoàn em nhỏ đi học vào lúc trời mới tờ mờ sáng, tay cầm một chiếc đèn dầu nhỏ, đầu đội một cái mũ nặng kết bằng rơm để tránh bom bi. Phải đương đầu với tất cả những gian khổ như vậy, nhưng người dân miền Bắc Việt Nam vẫn chứng tỏ một sự can đảm mà cả thế giới phải công nhận. Và chính điều này làm cho chiến lược Mỹ thất bại.
Tôi cũng đã từng sống dưới những cuộc ném bom trong Thế chiến II. Theo kinh nghiệm, tôi biết rằng khi hoảng sợ, người dân sẽ ngồi co ro dưới hầm trú ẩn. Ở Việt Nam thì khác hẳn. Ngay từ những ngày đầu tôi đã nhận thấy người dân nơi đây không chịu đựng một cách thụ động cuộc tấn công của máy bay Mỹ mà họ chủ động chiến đấu chống trả lại chúng. Ngày 11/2/1965, tôi đã có một ấn tượng sâu sắc về việc này. Hôm đó, cùng với một số đồng nghiệp quốc tế, tôi phải xuống trú ẩn dưới một hầm cá nhân. Nhưng trên đầu chúng tôi, từng nhóm người, tay cầm những khẩu súng trường cổ lỗ, đầu đội một vành lá ngụy trang bắn rào rào lên những chiếc máy bay Mỹ.
Tôi vẫn còn nhớ những ngôi làng nhỏ bé ở Nghệ An, với những dãy đường hào ngang dọc do dân chúng đào để đi đến các ụ pháo, đến trường học của trẻ em. Dân làng phụ trách việc nuôi quân. Khi các chị gánh cơm đến, anh em bộ đội quấn quýt chung quanh. Sự đoàn kết giữa quân đội và dân chúng từ xưa đến nay vẫn là điều hằng mơ ước của những nhà chiến lược trên thế giới, thì ở đây, nó được hình thành một cách tự nhiên và đẹp đẽ như vậy đó.
(Theo Sài Gòn Giải Phóng, 30/4)