Cơ cấu trí nhớ của con người
Cơ cấu trí nhớ của mọi người đều nằm trong vỏ bán cầu đại não gồm khoảng 100 tỷ tế bào thần kinh và chúng tạo nên khoảng một tỷ tỷ điểm kết nối. Cái kho này có đủ chỗ cho mọi dữ liệu, cảnh vật, con số, sự kiện xảy ra từ thời niên thiếu đến khi trưởng thành. Những hình ảnh đó có thể gọi ra được, nhưng được nạp dưới một chế độ nén lớn đến mức không thể lần mò đến chúng được. Để phân biệt những dữ liệu cần thiết cho cuộc sống với những dữ liệu không cần thiết, bộ não phải tiến hành các phương pháp nhắc lại, liên hệ kết nối và xác định giá trị cảm xúc để đánh dấu những dữ liệu quan trọng. Lúc bình thường, không ai nhớ được tên người phi công đã lái chiếc máy bay chở mình trên chặng Frankfurt - New York cả. Nhưng nếu người phi công đó phải hạ cánh khẩn cấp, trên một núi băng chẳng hạn, thì sự kiện bất thường đó sẽ kích hoạt hàng nghìn tế bào thần kinh tạo các điểm kết nối mới và vì thế mỗi lần kể lại câu chuyện đó thì tên người phi công lại được gọi ra từ bộ nhớ. Bộ não sẽ duy trì mối liên kết sao cho đến khi về già người ta vẫn nhớ được câu chuyện và tên người phi công.
Giá trị xúc cảm là một chiến lược rất khôn khéo của bộ não. Việc gạn lọc các dữ liệu trí nhớ bảo đảm cho sự lựa chọn chính xác điều cần thiết, cho dù trữ lượng của “cái kho” trong bộ não to lớn một cách khủng khiếp. Nhưng mặt khác, cơ chế lọc này lại làm cho việc học của con người khá khó khăn. Nếu chế ngự được cơ chế học này theo nhu cầu thì mỗi người bình thường có thể trong chớp mắt học được tiếng Anh, dễ dàng chơi các bản nhạc của Chopin hoặc kích hoạt những tiềm năng còn ẩn giấu trong đầu. Rất tiếc là không thể làm thế được. Tuy nhiên, các nhà khoa học lại cho rằng, có thể làm thế được.
Người bình thường có thể trở thành thiên tài ngôn ngữ nếu bộ não được kích hoạt một cách phù hợp.
Từ 16 năm nay, giáo sư Allan Snyder đi tìm công thức sự “thiên tài” của người tự kỷ. Ông cho rằng, người bình thường chúng ta phải học từ họ, vì “họ chỉ cho chúng ta thấy chúng ta thực sự là ai và có thể sẽ trở thành ai”. Cũng như ông, các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới trong các lĩnh vực sinh lý, sinh học thần kinh như Gerhard Roth hoặc Manfred Spitzer đều cho rằng, chiến lược của bộ não chỉ nhớ những sự kiện quan trọng đã hạn chế con người len lỏi được vào kho dữ liệu đầy ắp trong bộ não để khai thác những gì mà con người thực ra đã biết.
Vấn đề là làm thế nào để làm giảm đi sự hoạt động của cơ chế lọc và kìm hãm này, nhưng không gây nguy hiểm cho sự cân bằng hóa điện tử của bộ não? Ai lại muốn học ngoại ngữ, nếu vì thế có thể sẽ bị tàn phế (khả năng hoạt động cơ bắp chẳng hạn)? Giáo sư Allan Snyder cho rằng: “Vấn đề đó chúng ta sẽ giải quyết được”.
Mới đây, Allan Snyder cùng với nhóm 6 nhà khoa học khác đã kết thúc một công trình nghiên cứu công phu về vấn đề này. Trong một năm trời, họ đã dùng thiết bị kích thích từ trường vào vùng đầu (TMS) để thử nghiệm vài trăm người. Từ vài năm nay, phương pháp này được dùng để kích thích và làm giảm hoạt động của những vùng nhất định trong não. Mục đích của giáo sư Allan Snyder là kìm hãm hoạt động của những kết nối điện thần kinh nhất định và thế vào đó là “giải phóng” những kết nối điện thần kinh khác, để qua đó thử nghiệm được các khả năng trí tuệ. Giáo sư Allan Snyder cho biết: “khả năng sáng tạo của họ tăng 40%. Những người chịu tác động của TMS ít bị ảnh hưởng bởi lý trí và sự tính toán trong suy nghĩ. Họ suy nghĩ trong những luồng cố định. Họ có thể sử dụng nhiều hơn nguồn dữ liệu trong tiềm thức của họ. Trong một thời khắc, họ đã thành những người tự kỷ!”.
Snyder mơ đến một thiết bị tạm gọi là “cái mũ suy nghĩ”, mà khi chụp nó lên đầu thì năng lực sáng tạo và khả năng học hành của con người sẽ được cải thiện. Ông thừa nhận rằng, nghe có vẻ như khoa học viễn tưởng nhưng 30 năm trước đây ai có thể tưởng tượng ra một thế giới Internet ngày nay.
![]() |
|
Matt Savage 9 tuổi đã sáng tác những bản nhạc đậm màu sắc và lấp lánh. |
Hiện nay vẫn chưa có một cái mũ kiểu như vậy. Những nhà khoa học như Allan Snyder ở Australia và Darold Treffert ở Mỹ vẫn truy tìm những điều bí ẩn bên trong những người tự kỷ. Mới đây, giáo sư Darold Treffert nhận được một đĩa CD do mẹ của một cậu bé mắc chứng tự kỷ gửi đến. Ông biết nhiều người tự kỷ chơi piano và thuộc hàng nghìn bản nhạc, nhưng hầu như ai cũng chơi vô cảm như một cái máy. Tuy vậy khúc tam tấu nhạc Jazz soạn cho piano, contrabass và bộ gõ do cậu bé này chơi lại thật tuyệt vời. Vợ ông khẳng định: “Không thể là của một người tự kỷ được”. “Đúng - ông nói - chưa là một người, vì đó mới chỉ là một cậu bé 11 tuổi”.
Matt Savage biết chơi piano từ năm 6 tuổi và lên 9 đã sáng tác những bản nhạc đậm màu sắc và lấp lánh đến nỗi hai nhạc sĩ nổi tiếng Dave Brubeck và Chick Corea phải tuyên bố cậu là tài năng âm nhạc lớn nhất của thế kỷ! Có thể ông sẽ tìm ra câu trả lời từ trường hợp cậu bé này chăng? Có thể giáo sư Darold Treffert sẽ tìm thấy ở cậu bé này chiếc cầu nối giữa những thiên tài tự kỷ nhưng vô cảm, không ý thức được tài năng của mình với những thiên tài là người bình thường hoàn toàn ý thức được tài năng của mình?
Thế Giới Mới (theo Spiegel)
