Thấy tôi nhìn thau cá lau kiếng, chị bán cá đon đả: "Có bốn chục ngàn một ký à! Anh mua về hầm sả ăn cơm ngon lắm. Cá này giờ bán chạy, bữa nào cũng hết sớm".
Giờ ở Sài Gòn, cá lau kiếng cũng thành món ăn, bày bán như cá đồng.
Ở miền Tây, cá lau kiếng lên bàn nhậu từ lâu.
Những năm gần đây, đi qua các chợ vùng sông nước - từ Long An, Đồng Tháp, An Giang đến Hậu Giang - tôi thấy loại cá này được bày bán hàng ngày, giá ngang ngửa cá lóc, cá rô. Có nơi còn làm khô, thậm chí có chỗ nướng bán mang đi như món ăn đường phố.
Khoảng hai mươi năm trước, cá lau kiếng xuất hiện trên sông Sài Gòn và nhanh chóng trở thành nỗi ám ảnh của những người sống bằng nghề đánh bắt.
"Cứ gặp nó là banh mành lưới. Mà chỗ nào có nó thì cá khác biến sạch nên tụi tui gọi nó là ‘cá quỷ’", ông Ba Kính, một người đánh cá trên sông Sài Gòn, nói khi chèo ghe chở tôi đi tìm hiểu về loài cá này.
Mỗi lần kéo lưới gặp cá lau kiếng, ông Kính thường đập chết rồi treo lủng lẳng trên những tàu dừa nước cho bõ tức. Có lần, tôi cùng ông xẻ một con to bằng bắp tay, thấy trong ruột toàn chất bẩn nên nghĩ chắc chẳng ai dám ăn.
Cá lau kiếng vốn là loài ngoại lai, theo đường cá cảnh vào Việt Nam, có nơi còn gọi là cá dọn bể. Từ nuôi kiểng, chúng bị thả ra tự nhiên và trở thành một trong những sinh vật ngoại lai gây hại. Loài này sinh sản nhiều lần trong năm, mỗi lần hàng trăm đến hàng nghìn trứng.
Lau kiếng ăn tạp, chịu đựng tốt trong môi trường thiếu oxy, nguồn nước ô nhiễm. Chúng còn đào hang, làm sạt lở bờ sông, kênh rạch... Tuy loài này không hung dữ nhưng để cạnh tranh môi trường sống, chúng sẽ xâm chiếm địa bàn của nhiều loài thủy sinh khác và phá hủy môi trường sinh thái nơi chúng sống.
Các loại lau kiếng lớn, bé đã bị đưa vào danh mục loài ngoại lai xâm hại theo Thông tư 69/2025 của bộ Nông nghiệp và Môi trường. Nhưng trên phố, ngoài chợ, chúng đã trở thành thực phẩm, như một phần thói quen "con gì cũng ăn" của không ít người.
Cá lau kiếng là một phiên bản khác của ốc bươu vàng.
Những năm 1980, ốc bươu vàng được đưa vào Việt Nam với kỳ vọng giúp người dân làm giàu. Chỉ vài năm sau, nông dân nhận ra họ đã nuôi nhầm "cỗ máy phá hoại". Báo cáo của UNDP ghi nhận, tới năm 1997, ốc bươu vàng đã xâm nhập hơn 132 nghìn ha ruộng lúa trên 57 trong số 63 tỉnh/thành phố (cũ) của Việt Nam, gây ảnh hưởng tới an ninh lương thực và sức khỏe của con người.
Hay rùa tai đỏ - từng được bán để nuôi kiểng. Nhưng khi thoát ra môi trường, chúng mới lộ rõ bản chất "sát thủ" - ăn tạp, từ cá, tôm đến cây thủy sinh, cạnh tranh thức ăn với loài bản địa. Một con rùa nhỏ trong bể là thú vui, nhưng hàng nghìn con ngoài tự nhiên là áp lực cho cả hệ sinh thái.
Một loài ngoại lai khác cũng gây ám ảnh không kém là lục bình. Tại TP HCM, có thời gian dài, lục bình phủ kín sông, kênh rạch; gây ô nhiễm môi trường, ách tắc giao thông thủy. Mỗi năm thành phố phải chi hàng tỷ đồng để thu gom, chế tạo máy cắt băm, hay vây lưới chắn từ thượng nguồn sông Sài Gòn... Nhưng lục bình vẫn mọc, vẫn trôi, sinh sôi vô kể.
Mới đây, lục bình còn trôi ra tận biển, biến hai bãi tắm đẹp ở Vũng Tàu thành bãi rác.
Nhìn lại, điểm chung của sinh vật, thực vật ngoại lai: xuất phát từ ý định ban đầu tốt đẹp nhưng không kiểm soát dẫn đến bùng phát - bất lực - buộc phải sống chung.
Báo cáo năm 2023 của Diễn đàn Khoa học - Chính sách Liên chính phủ về Đa dạng sinh học và dịch vụ hệ sinh thái (IPBES) cho thấy, loài ngoại lai xâm hại là một trong năm nguyên nhân hàng đầu gây mất đa dạng sinh học toàn cầu. Hơn 3.500 loài gây thiệt hại khoảng 420 tỷ USD mỗi năm. Và mỗi năm lại có khoảng 200 loài ngoại lai mới được đưa vào hệ sinh thái, do hoạt động của con người.
Điểm yếu của Việt Nam trước sự xâm lấn của các loài ngoại lai là thiếu dữ liệu giám sát, hạn chế về nguồn lực và nhận thức của cộng đồng.
Trong một cuộc hội thảo vừa tổ chức năm ngoái, giới chuyên gia đề xuất nhiều giải pháp. Trong đó ngoài việc nâng cao nhận thức của người dân, nhà quản lý cần hoàn thiện chính sách quản lý sinh vật ngoại lai; bổ sung khuyến nghị cụ thể về các loài động - thực vật nên và không nên sử dụng làm thức ăn cho người, vật nuôi, tránh vô tình kích cầu, tăng nguy cơ sinh sôi của chúng trong tự nhiên.
Các chính sách và khuyến nghị này, theo tôi, không nên chỉ dừng lại ở danh mục chung, mà cần cụ thể hóa, chi tiết hơn ở cấp độ địa phương, do tính đa dạng sinh vật, hoạt động nuôi trồng, đánh bắt, tập quán sinh hoạt của con người ở mỗi nơi một khác.
Thấy cá lau kiếng bán nhiều ngoài chợ, tôi gọi điện hỏi ông Ba Kính: giờ trên sông Sài Gòn cá lau kiếng còn nhiều không. Ông cho biết đã bỏ nghề từ lâu: "Sông ngày càng ít cá tôm nên tui phải tìm kế khác".
Ông Kính cũng không thể hình dung, con cá lau kiếng từ chỗ bị đập chết treo tàu dừa, cho chẳng ai thèm lấy giờ đã vào bữa cơm của không ít gia đình.
Nhưng đó không phải là tín hiệu vui.
Loài cá này vốn không được khuyến khích làm thực phẩm. Hơn nữa, khi một loài ngoại lai bắt đầu "lên mâm" và có giá trị thương mại, nó dễ tạo ra một vòng lặp: càng có người ăn, càng có người khai thác, thậm chí nuôi giữ, dẫn đến nguy cơ phát tán càng lớn. Khi đó, tiêu thụ có thể trở thành một hình thức hợp thức hóa sự xâm lấn.
Vì khi cái thau cá lau kiếng trong chợ ngày càng đầy lên, thì sự sống ở những lòng sông cũng đang dần kiệt quệ.
Trung Thanh