![]() |
|
Ca sĩ Robbie Williams. |
Sau khi rời ban nhạc Take That, Robbie lần đầu tiên lọt vào bảng xếp hạng các ca sĩ solo vào tháng 8/1996 với bài Freedom (cover lại của George Michael). Anh phát hành album đầu tay Life Thru A Lens tháng 10/1997 và một năm sau đó cho ra đời I've Been Expecting You. Từ đó đến nay, Sing When You're Winning (2000), Swing When You're Winning (2001), Escapology (2002) và album mới nhất Intensive Care lần lượt ra mắt khán giả.
Robbie Williams còn có 2 album nữa là Live At Knebworth (2003) và đĩa Greatest hits (2004) nhưng không được tính trong lần xếp hạng này. Live là album duy nhất của ca sĩ này không "trèo" được vào bảng xếp hạng âm nhạc xứ sở sương mù.
Bám sát Robbie Williams là ban nhạc Coldplay, với 6,2 triệu bản của 3 album phát hành từ năm 2003. Nữ ca sĩ Dido chiếm vị trí thứ 3, với 5,7 triệu bản cho 2 đĩa hát, xếp trên Eminem (4,7 triệu bản) và West Life (4,2 triệu bản).
Đây là số liệu thống kê những đĩa hát bán ra tại vương quốc Anh từ 1/1/2000 đến 11/10/2005, nhưng không tính những album tổng hợp, album live và lượng bài được download từ Internet.
Các ca sĩ khác có mặt trong top 10 là Norah Jones, Blue, Anastacia, The Stereophonics và Oasis.
H.T. (theo AFP)
