Thứ sáu, 30/4/2021, 09:36 (GMT+7)

'Binh chủng' vượt bom đạn chi viện tiền cho miền Nam

Miền Bắc đang chờ tiền về để chi viện cho miền Nam, nhưng "người vận chuyển" Nguyễn Nhật Hồng lại mất tích cùng vali 2 triệu USD tiền mặt.

Đội vận chuyển C100 thuộc Đoàn 559 vận chuyển hàng và tiền trên đường Trường Sơn trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Ảnh: Tư liệu Ngân hàng Nhà nước.

Nghiệp vụ 'chế biến' và chuyển tiền mặt

Đó là những năm đầu 1960, khi cuộc chiến giải phóng miền Nam bước vào giai đoạn "nước sôi lửa bỏng". Đặc điểm của nền kinh tế vùng do chính quyền Sài Gòn kiểm soát là thị trường tự do, hàng hoá dồi dào. Nói cách khác, hoàn toàn có thể giải quyết hậu cần tại chỗ. "Nhưng miễn phải có tiền", ông Nguyễn Văn Phi (tức Mười Phi), nguyên Trưởng ban Tài chính đặc biệt Trung ương cục, nhận định.

Ông Nguyễn Nhật Hồng khi ấy là trưởng phòng thanh toán (thuộc Quỹ ngoại tệ đặc biệt) trực tiếp phụ trách liên lạc với ngân hàng trên thế giới để nhận và gửi các lệnh chi tiền, chuyển tiền.

Một trong những mật mã trao đổi của ông Nhật Hồng trong thời kỳ vận chuyển tiền từ Bắc vào Nam. Ảnh: Tư liệu Ngân hàng Nhà nước.

Miền Nam lúc đấy chủ yếu cần hai loại là tiền Sài Gòn (mật danh lúc đó gọi là tiền Z) và đôla Mỹ cùng một ít tiền mặt đồng Riel Campuchia, Kip Lào và Baht Thái Lan. Nhưng miền Bắc không đủ sẵn do nguồn thu kiều hối và xuất khẩu dịch vụ đối ngoại còn eo hẹp.

Để lo ngoại tệ cho miền Nam, Cục ngoại hối thuộc Ngân hàng Quốc gia Trung ương vận động bạn bè quốc tế, thậm chí đàm phán với chính phủ nước bạn để có tiền viện trợ.

Trung Quốc đã viện trợ một số ngoại tệ bằng tiền mặt đôla Mỹ và giúp lập một cơ sở ngân hàng tin cậy tại Hong Kong. Tại đó, đôla viện trợ được "chế biến" thành một số biệt tệ khác.

Ông Nguyễn Nhật Hồng sang Ngân hàng Quảng Châu để nhận hai triệu đôla Mỹ, cho tiền vào vali và đi tàu hỏa từ Quảng Châu về Nam Ninh. Gần đến Nam Ninh thì chuyện bất ngờ xảy đến: Hồng vệ binh làm náo loạn và lấy đi đầu tàu hỏa.

"Tôi nằm chết dí một tuần lễ giữa đường. Là khách Việt Nam nên họ không đụng đến mà chỉ dồn vào một phòng trong trường học bên đường", ông kể.

Trong khi ông mắc kẹt tại nước ngoài, Quảng Châu thì báo "ông Hồng đã nhận tiền và đi rồi" còn Hà Nội thì mãi không thấy ông về. Cả hai đầu đều gọi cho Tổng Lãnh sự quán của mình ở Nam Ninh. Lãnh sự trả lời "không biết".

"B.29 và cả anh Lê Thanh Nghị (Phó thủ tướng) lúc ấy coi như tôi mất tích cùng hai triệu đôla", ông Hồng kể lại.

Sau vài ngày ngồi ôm chiếc vali tiền trong một trường học bỏ hoang, đến ngày thứ sáu, ông Hồng tìm cách "dân vận" với bảo vệ nhà trường nhờ cầm giúp thư tới đồng chí Diên Lãnh sự Việt Nam ở Nam Ninh. Thứ bảy, ông Diên tới, nhờ vậy, ông Hồng được đưa về Nam Ninh, rồi đi máy bay từ Nam Ninh về thẳng Hà Nội.

Ông Nguyễn Nhật Hồng, người từng bị bắt với chiếc vali 2 triệu USD, lần xem lại những ký hiệu ghi chép khi xưa. Ảnh: Tư liệu Ngân hàng Nhà nước.

Ông Nguyễn Nhật Hồng chỉ là một trong nhiều "chiến sỹ" hoạt động thầm lặng cả ở ngoài Bắc và trong Nam, cả trong và ngoài nước của một "binh chủng tiền" để chi viện cho miền Nam. Nhiều tác vụ chuyển tiền khác của cũng khó khăn và kịch tính không kém.

Chuyển tiền lúc ấy không phải dễ, nhất là từ giữa thập kỷ 60, Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân ở miền Bắc, viện trợ vật chất vào Nam, cả bằng đường Trường Sơn lẫn đường biển đều khó khăn. Trong khi đó, cuộc giải phóng miền Nam đang ở giai đoạn cao điểm, cần rất nhiều tiền.

Năm 1965, ông Phạm Hùng, uỷ viên Bộ chính trị, Phó thủ tướng đề xuất Bộ Chính trị một quyết định có ý nghĩa lịch sử: Lập riêng tại miền Bắc một "Quỹ ngoại tệ đặc biệt", để lấy từ các nguồn viện trợ quốc tế trực tiếp chi cho miền Nam.

"Quỹ ngoại tệ đặc biệt" được đặt bí danh là B.29. Trong cuốn Lịch sử Ngân hàng Việt Nam, nhóm tác giả của Ngân hàng Nhà nước đã mô tả kiểu hoạt động của quỹ này là "Lấy cái công khai làm bình phong cho cái bí mật, mọi hoạt động của cái bí mật đều lấy danh nghĩa của cái công khai". B.29 có danh nghĩa của một Cục Ngoại hối (để làm thủ tục khi cần thiết) nhưng về điều hành, lại không phải một đơn vị trong Ngân hàng Quốc gia mà chịu sự chỉ đạo đơn tuyến để "đảm bảo bí mật".

Đoàn cán bộ nữ ngân hàng đi chiến trường B. Ảnh: Tư liệu Ngân hàng Nhà nước.

Một trong những nhiệm vụ của B.29 là "chế biến ra tiền mặt đôla Mỹ" vì các nguồn viện trợ quốc tế tại Âu Mỹ gồm rất nhiều loại bản tệ khác nhau như Pound Anh, Franc Pháp, Franc Thuỵ Sĩ, Lire Ý, Couronne Đan Mạch... Nhiệm vụ này được giao cho đại diện Vietcombank ở Paris tiến hành tại Pháp và Thụy Sỹ, rồi bằng "giao thông ngoại giao" đưa qua đường Moskva về Hà Nội.

Tuy nhiên, "chế biến" tiền đưa về nước mới chỉ là bước đầu. Hành trình tiếp theo là vận chuyển đồng đôla và các biệt tệ từ miền Bắc vào Nam. Hai giai đoạn này là phương thức chuyển tiền mặt, được đặt mật hiệu là AM. Mật danh này lấy tên làn sóng trung của radio nhưng cũng hàm nghĩa là tiền mặt (money), là Mỹ (American).

Trong giai đoạn đầu, tiền đi vào Nam theo một đường khá "sang trọng": Đặt trong "vali ngoại giao", hoặc nếu nhiều thì đóng vào các thùng nghi trang như đồ hộp xuất khẩu, đi theo tuyến hàng không Hà Nội - Phnompenh hoặc Hà Nội - Quảng Châu - Phnompenh.

Chiếc valy ngoại giao nhãn hiệu "Luxe" do Liên Xô sản xuất mà các cán bộ hải ngoại để dùng để chuyển USD về Hà Nội. Từ đó, chi viện tiếp cho miền Nam. Ảnh: Tư liệu Ngân hàng Nhà nước.

Nhưng từ giữa thập kỷ 60, tình hình chính trị của Campuchia bất ổn, đặc biệt từ khi có đảo chính của Lon Nol, con đường này cũng chỉ có thể được sử dụng một cách rất hạn chế. Con đường thường xuyên và cũng là gian khổ nhất vẫn là vận chuyển trên đường bộ bằng xe tải quân sự và đường biển bằng những chuyến tàu không số. Nhiều chết chóc, hy sinh, tổn thất đã xảy ra ở khâu này.

Từng xảy ra một số lần địch ném bom trúng xe chở hàng, trong đó có các thùng đựng tiền. Vỏ thùng đựng tiền tuy không bị cháy, nhưng sức nóng của lửa đã làm phân hủy số đôla bên trong. Trong hai năm 1972 và 1973, hơn 5 triệu USD bị cháy theo cách này khi trên đường vận chuyển vào Nam do Mỹ oanh tạc.

Thư của cố Bí thư Xứ uỷ Nguyễn Văn Linh (Út) gửi động viên và dặn dò ông Mười Phi. Ảnh: Tư liệu Ngân hàng Nhà nước.

Để giảm tổn thất, ngành vận tải quân đội đã giữ nguyên các thùng tiền bị cháy, đưa trở ra Hà Nội, nộp lại cho B.29. Vietcombank đã dùng nghiệp vụ "sửa sang", phân loại từng tờ bạc. Số tiền còn đủ tiêu chuẩn lưu thông thì gửi nhờ các ngân hàng đại lý thuộc loại "bạn bè tin cậy" tiêu thụ hộ. Cuối cùng, thu được hơn 1,2 triệu USD để chi viện cho chiến trường.

Không chỉ vậy, từ năm 1964 đến năm 1965, chiến tranh càng leo thang, chi phí cho miền Nam tăng lên rất nhiều, chuyển tiền theo cách "thô sơ" này càng thêm khó khăn, tốn kém và cả máu. Nhiều người đã hy sinh.

Chuyển tiền không cần mang theo tiền

Chiến tranh càng ác liệt, Mỹ càng ra sức đánh phá các con đường trên bộ và trên biển, gây nhiều khó khăn cho việc vận chuyển. Vận chuyển đường thủy rất dễ gặp tàu địch. Vận chuyển trên đường bộ thì bị máy bay đánh phá. Nếu chỉ chuyển vận một vài chuyến đột xuất thì mức độ rủi ro không lớn, nhưng nếu vận chuyển thường xuyên bằng những con đường này thì lại là chuyện khác.

Bên cạnh đó với nhu cầu tiền mặt ngày càng nhiều cho cuộc chiến, việc "chế biến" từ đôla ra tiền Sài Gòn cũng khó hơn. Không thể nào "chế biến" một cách nhanh chóng một khối lượng tiền quá lớn trên thị trường miền Nam.

Ông Nguyễn Văn Phi, tức Mười Phi, nguyên Trưởng Ban Tài chính đặc biệt Trung ương Cục thấy cách chuyển như vậy vừa không được nhiều tiền, dễ bị tổn thất, địch dễ phát hiện, lại mất nhiều phí đổi tiền (đổi 100.000 USD phải mất 2.700 USD). "Nếu chỉ làm mãi theo phương cách này thì lượng tiền chế biến không thể nhiều và nhanh, không theo kịp nhu cầu của cuộc kháng chiến được", ông Mười Phi nói.

Trước tình thế mới, ông Mười Phi và Nguyễn Thanh Quang (còn gọi là Năm Quang, tức Dân Sanh) nảy ra ý tưởng mới. Hai ông thấy rằng, ngân hàng phát minh ra để giúp cho con người chuyển tiền bằng những tín hiệu, không cần phải mang tiền theo người. Tại sao ta không áp dụng phương pháp đó? Phát hiện này được đề xuất với Trung ương, sau đó được chấp cho thực thi phương pháp mới là chuyển khoản, mang ký hiệu là FM. Một lần nữa, những người cách mạng lại chọn "bí danh" chuyển tiền theo sóng radio, lần này FM là sóng radio tầm ngắn.

Một trong những hòm sắt cỡ lên mà Quỹ ngoại tệ đặc biệt dùng để chuyển tiền vào Nam.

Theo đó, tiền Z được lấy ngay tại Sài Gòn qua một đường dây hoạt động nội thành của Ban Tài chính đặc biệt (được gọi là N.2683). Sau đó, hoàn trả cho nhà cung cấp tại nước ngoài bằng USD.

Nhà cung cấp tiền Z Sài Gòn là những chủ kinh doanh lớn, sẵn sàng hợp tác với một đầu mối của N.2683 trong nội thành Sài Gòn, do Dân Sanh đảm nhiệm. Họ có tài khoản tại các ngân hàng thương mại nước ngoài và ở Sài Gòn.

Theo thỏa thuận, họ rút tiền Sài Gòn từ ngân hàng với lý do sản xuất, kinh doanh, nhưng trên thực tế là để cung cấp cho cách mạng. Trong nhiều trường hợp, có những khoản lớn là tiền Z, không cần rút từ ngân hàng, mà được thu trực tiếp do bán hàng nhập khẩu.

Ông Tư Trần An, một Hoa kiều chuyên nhập vàng từ Hong Kong bán buôn cho các chủ tiệm vàng ở Sài Gòn là người đầu tiên cấp tiền mặt Z cho đầu mối của N.2683. Đó là một tay buôn vàng cỡ lớn, đã từng làm việc tại Ngân hàng Đông Dương Sài Gòn, có rất nhiều kinh nghiệm về chuyện chuyển tiền.

Mười Phi trực tiếp gặp Trần An và tìm hiểu làm sao để Trần An buôn lậu vàng vào Sài Gòn. Trần An dùng đám lái máy bay chở vàng về, lại có tài khoản đặt sẵn ở Ngân hàng Hong Kong, như vậy là có đầy đủ hạ tầng cơ sở.

Hai bên thỏa thuận với nhau rằng, Trần An rút tiền Sài Gòn cho N.2683. Sau đó đôla sẽ được thanh toán vào tài khoản của Trần An tại Hong Kong. Như thế, về phía Trần An đã giải quyết được việc rất quan trọng là rửa được số tiền bán vàng ở trong nước, lại làm sạch số tiền USD ở Ngân hàng Hong Kong. Đại gia buôn vàng sau đó nhất trí làm việc với N.2683, hai bên đều có lợi. Đó là cách phương thức chuyển khoản FM ra đời trong thời chiến.

Ông Mười Phi và ông Tư Trần An sau này gặp lại nhau ở Paris. Ảnh: Tư liệu.

Tiền Z sau đó được giao tại những nơi quy ước, đó là vùng giáp ranh ven đô Sài Gòn - Gia Định, có khi còn đi xa hơn, phân tán trong các kho nhỏ rồi tổ chức các chuyến ôtô hoặc Honda đem đi tiếp.

Sự ra đời của phương pháp chuyển khoản FM mang đến sự ưu việt so với việc vận chuyển tiền mặt trực tiếp, khi có thể giải quyết nhu cầu chuyển tiền lớn chỉ trong một ngày, thay vì nhiều tháng hành trình đầy rủi ro như trước.

Phương thức này cũng an toàn và kín đáo hơn. Chưa kể, dùng cách này cũng không bị thiệt thòi do vấn đề tỷ giá, mà có trường hợp còn sinh lợi nhờ hưởng lãi suất phát sinh tại các ngân hàng. Tất nhiên, để thực hiện được chuyển khoản theo cách này, cần phải có một hệ thống tổ chức rất tinh vi và dày công bố trí.

Tới năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ thống nhất đất nước kết thúc trọn vẹn. "Quỹ ngoại tệ đặc biệt" và guồng máy kinh tài ở khắp các chiến trường miền Nam chấm dứt nhiệm vụ lịch sử.

Cuộc vận hành của khối lượng tiền kể trên, bằng cả AM và FM, đã có cả một guồng máy gồm những chiến sĩ thầm lặng ở B.29, N.2683, ở khu căn cứ, trên những tuyến đường máu lửa của đoàn 559, đoàn 759, và cả những người thầm lặng hoạt động ở hải ngoại... Đó chính là "binh chủng" tiền không thể thiếu cho sự nghiệp giải phóng miền Nam.

Quỳnh Trang

* Bài viết sử dụng tư liệu của cuốn sách "Lịch sử Ngân hàng Việt Nam"