Thứ hai, 31/12/2012 | 07:00 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ |
Thứ hai, 31/12/2012 | 07:00 GMT+7

Phát lộ ngôi mộ táng của người tiền sử

Khai quật hang Con Moong (Thanh Hóa), các nhà khảo cổ phát hiện hàng tấn vỏ ốc, rất nhiều công cụ lao động. Giá trị nhất là tìm thấy di cốt của người tiền sử được chôn cất trong ngôi mộ táng niên đại cả chục nghìn năm.
*Ảnh: Di chỉ khảo cổ hang Con Moong

Nằm trong vùng đệm rừng quốc gia Cúc Phương, hang Con Moong (thuộc bản Mọ, xã Thành Yên, huyện Thạch Thành, Thanh Hóa) nhiều năm nay được biết đến như một di chỉ khảo cổ học độc nhất ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á bởi tính chất đặc biệt của nó.

Qua nhiều lần khai quật, các nhà khảo cổ đã chứng minh được hang Con Moong là đại diện cho sự diễn tiến văn hóa gắn với nhiều giai đoạn phát triển của người Việt cổ tồn tại trong hơn 10 nghìn năm (từ 18.000 đến 7.000 TCN). Điểm nổi bật của hang là các địa tầng đều có dấu vết quá trình phát triển liên tục của con người thời tiền sử, từ thời đồ đá cũ đến đồ đá mới, từ săn bắn, hái lượm đến trồng trọt, từ trước Sơn Vi sang Sơn Vi, đến văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn và Đa Bút.

Cửa hang Con Moong nằm cheo leo trên đỉnh núi, từ chân núi lên đến miệng hang có độ cao hơn 100 m. Theo tiếng địa phương, Con Moong có nghĩa là con thú. Đồng bào ở bản Mọ lý giải, nơi này xưa kia có rất nhiều muông thú tụ về sinh sống trú ngụ nên nhiều đời không mấy ai dám bén mảng đến cửa hang vì sợ thú dữ như hổ, báo… và hơn hết là “tránh để hồn ma người xưa theo về bản hại dân làng”.

Vòm hang Con Moong cao và rộng hình bán nguyệt, dài khoảng 40 m thông hai đầu. Trần hang có chỗ cao hơn 10 m. Ở giữa hang vách phẳng hơi cong, đôi chỗ có nhũ nhỏ xuống. Cửa hướng đông nam có một tảng đá tạo hình con hổ quỳ.

Tiến sĩ Phạm Văn Đấu, Hội sử học Thanh Hóa (một trong những cán bộ tham gia đợt khai quật hang Con Moong lần đầu tiên năm 1976) cho biết, lần theo chỉ dẫn của các cụ cao niên trong bản Mọ, năm 1974 một số cán bộ rừng Quốc gia Cúc Phương đã phát hiện ra hang Con Moong.

Năm 1976, Viện Khảo cổ học phối hợp với Ty Văn hóa tỉnh Thanh Hóa (nay là Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch) và Vườn Quốc gia Cúc Phương khai quật lần thứ nhất. Những năm gần đây, Viện khảo cổ học phối hợp với các nhà khoa học ở Viện Hàn lâm khoa học Nga tiếp tục khai quật lần 2, lần 3, lần 4 tại hang Con Moong, đồng thời phát hiện và khai quật một số hang khác cũng trên địa bàn xã Thành Yên, như hang Lai, Lý Chùn, Mang Chiêng, Diêm...

d

Qua nhiều lần khai quật, các nhà khoa học đã phát hiện di cốt và mộ táng của người Việt cổ trong hang. Ảnh: Lê Hoàng.

Cuối tháng 11 vừa qua, Sở Văn hóa Thanh Hóa phối hợp Viện Khảo cổ học tổ chức hội nghị công bố kết quả sơ bộ về khai quật khảo cổ học hang Con Moong và hang Mang Chiêng đợt 3 năm 2012. Kết quả thu được từ việc khai quật di chỉ hang Con Moong tiếp tục củng cố cơ sở khoa học rằng nơi đây có dấu vết quần cư liên tục của người Việt cổ, phát triển qua ba tầng văn hóa là Sơn Vi, Hòa Bình và Bắc Sơn. Những yếu tố chủ đạo của ba nền văn hóa tiền sử tiêu biểu nhất cho Việt Nam và Đông Nam Á đều hội tụ về đây.

Đặc biệt, các nhà khoa học đã phát hiện một số ngôi mộ có di cốt người. Đây là di tích mộ táng của cư dân thời đại đồ đá. Di tích có địa tầng dày nguyên vẹn minh chứng cho sự tiến triển về cổ khí hậu từ khô lạnh giai đoạn cuối băng hà (Late Pleistocene) sang nóng ẩm (Early Holocene); từ văn hóa thời đại đồ đá cũ sang đồ đá mới; từ kỹ nghệ chế tác công cụ mảnh sang kỹ nghệ cuội ghè; từ kỹ thuật ghè đẽo đến mài lưỡi công cụ; từ săn bắt, hái lượm sang trồng trọt sơ khai…

Sức hấp dẫn của hang Con Moong thể hiện ở chỗ đây được coi là nơi duy nhất ở Đông Nam Á có thời gian tồn tại của con người dài nhất và liên tục nhất. Đồng thời nơi đây cũng cho thấy những hình ảnh rõ ràng nhất về văn hoá vật thể và văn hoá tinh thần của cư dân cổ. Các di chỉ thu được tại Con Moong gồm rìu mài lưỡi kiểu Bắc Sơn, nạo hình đĩa, rìu ngắn, công cụ mũi nhọn bằng xương và công cụ ghè đẽo thô sơ tạo rìa ở dọc viên cuội, rìu ngang cùng một số mảnh đá được sử dụng làm dao cắt.

Người nguyên thủy ở đây cũng để lại một tầng văn hóa gồm có ốc suối, ốc núi cùng xương răng động vật, công cụ lao động... Nguồn sống chính của người nguyên thủy nơi đây là hái lượm, trái cây, rễ cây rừng hoang dại, bắt các loài nhuyễn thể như ốc núi, ốc suối làm thức ăn chính. Họ cũng biết dùng đá cuội, đá ba dan, riôlít, poócphinrít... để chế tạo ra chiếc rìu đá dùng để chặt cây, phá rừng, sáng tạo ra những chiếc nạo mỏng lưỡi để nạo vỏ cây, da thú. Họ còn nhặt trong lòng suối những viên cuội lớn để làm cối, những viên cuội tròn để làm chày nghiền hạt… Điều đó chỉ rõ cuộc sống định cư lâu dài của người nguyên thủy ở đây.

Ngoài ra, các nhà khoa học còn thu được mẫu xương răng các loại động vật như vượn, khỉ, gấu, lợn rừng, hươu nai và một số loại gặm nhấm, do người nguyên thủy săn bắt được đem về hang, ăn và vứt bỏ lại. Điều này chứng tỏ săn bắt giữ một vị trí quan trọng như một phương thức sinh tồn quan trọng.

Bấy giờ, người nguyên thủy chưa biết làm nhà mà sinh sống quần tụ trong các hang đá. Hang Con Moong chính là “ngôi nhà lớn” của người Việt cổ. Nhưng đây không chỉ là nơi cư trú, mà còn là khu mộ táng. Khi đào đến độ sâu 3,6 m, các nhà khảo cổ phát hiện di cốt của bốn cá thể, thuộc nhiều mộ, ở độ sâu dưới 3,2 m, thuộc hậu kỳ đá cũ. Trong số đó, có một mộ khá nguyên vẹn, chôn theo tư thế nằm co, bó gối, có đồ tuỳ táng là công cụ lao động bằng đá.

Các chuyên gia khảo cổ nhận định, có thể đây là tục trói người chết trước khi đem chôn, vì sợ hãi “con ma” trở về làm hại người sống. Ba ngôi mộ có cấu trúc độc đáo, xung quanh xếp đá hộc, đáy rải đá răm, lại được quàn gần bếp lửa, phản ánh tâm lý muốn người chết luôn luôn gần gũi với mình, có mộ còn được rắc thổ hoàng để trang trí. Điều này cho thấy người xưa đã có ý niệm về thế giới bên kia nên đã chôn theo người chết một số công cụ sinh hoạt bằng đá và một số đồ trang sức bằng vỏ nhuyễn thể.

Theo nhận định của các nhà khoa học, hang Con Moong cùng với động Người Xưa, hang Đắng, mái đá Mộc Long và hang Lai tạo thành một quần thể di tích cho thấy một cộng đồng dân cư cư trú trong một thung lũng rộng lớn, có sự thay đổi về dân số, vị trí cư trú và phương thức sản xuất và cộng đồng này góp phần tạo nên văn hóa Đa Bút.

Cũng theo tiến sĩ Đấu, người Hòa Bình đã đẩy nhanh kỹ thuật ghè đẽo công cụ từ kém định hình sang định hình, đặc biệt sáng tạo ra cây rìu mài lưỡi niên đại trên một vạn năm. Bên cạnh kinh tế săn bắt và hái lượm, người Hòa Bình bắt đầu biết đến thuần dưỡng thực vật, khởi dựng nền văn minh nông nghiệp đầu tiên trong các thung lũng karst (đá vôi) nhiệt đới Đông Nam Á, tiến hành nghi thức chôn cất người chết tại nơi cư trú, chôn theo công cụ và trang sức, đặt thi hài theo tư thế nằm co bó gối...

Dẫn lời PGS.TS Tống Trung Tín, Viện trưởng Khảo cổ học Việt Nam, tiến sĩ Đấu nhận định, vào khoảng sau 7000 năm TCN, cư dân nơi đây đã làm một cuộc di cư vĩ đại, vươn ra chiếm lĩnh đồng bằng châu thổ huyện Vĩnh Lộc (Thanh Hóa) và Nho Quan, Tam Điệp (Ninh Bình), tạo dựng nên bộ mặt văn hóa mới, văn hóa Đa Bút - văn hóa Trung kỳ Đá mới Việt Nam. Có thể nói đây là công cuộc di cư khai phá châu thổ sông Hồng và sông Mã đầu tiên trong lịch sử.

Từ khi được phát hiện đến nay, mỗi năm hang Con Moong đã thu hút hàng nghìn lượt du khách trong và ngoài nước đến tham quan. Không chỉ là di tích lịch sử quốc gia, hang Con Moong còn là tiềm năng du lịch sinh thái đa dạng. Ngoài cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, ở đây còn có những món ăn ngon mà thiên nhiên ban tặng như ốc đá tròn, ốc suối dài, con chấu chôm, cá niếc (loài cá làm tổ dưới đất sâu, mùa mưa mới chui ra khỏi tổ)...

Ông Nguyễn Văn Tuấn, Giám đốc Sở Văn hóa Thanh Hóa cho biết, hiện sở tiến hành các bước lập đề án đề nghị nhà nước công nhận hang Con Moong là di tích quốc gia đặc biệt trong năm 2013. Những năm tiếp theo, tỉnh Thanh Hóa sẽ tiếp tục hoàn thiện hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận di sản văn hóa thế giới với di sản này.

Lê Hoàng

Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên google+ Email cho bạn bè
 
Đây là con đường ngắn để chuyển tiếp đến bất cứ trường đại học nào ở "xứ sở chuột túi" mà bạn mong muốn và có được bằng tú tài