Thứ sáu, 12/2/2016 | 01:00 GMT+7
|
Thứ sáu, 12/2/2016 | 01:00 GMT+7

Dấu ấn tín ngưỡng phồn thực trên chiếc thạp đồng bảo vật

4 cặp tượng nam nữ trong tư thế giao hoan trên nắp thạp đồng là biểu tượng cho ước vọng sinh sôi nảy nở của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước từ thuở xa xưa.

Trong 16 bảo vật Bảo tàng Lịch sử quốc gia lưu giữ có thạp đồng Đào Thịnh, được coi là một trong những "siêu phẩm" của thời kỳ văn hóa Đông Sơn, niên đại 2.000-2.500 năm. Đến nay, thạp cao 98 cm, đường kính miệng 61 cm, đường kính đáy 60 cm vẫn là chiếc lớn nhất được phát hiện ở Việt Nam. Thạp đồng Đào Thịnh cũng là một trong những bảo vật quốc gia được Thủ tướng ký quyết định công nhận đợt đầu tiên vào ngày 1/10/2012.

Cuốn "Những vết tích đầu tiên của thời đại đồ đồng thau ở Việt Nam" có đề cập đến nguồn gốc chiếc thạp. Vào ngày 14/9/1961, ông Phạm Văn Phúc ở xã Đào Thịnh (Trấn Yên, Yên Bái) đi câu thì phát hiện thạp nằm sâu trong lòng đất, ven bờ sông Hồng bị lở. Mở thạp ra, ông Phúc phát hiện bên trong còn một thạp nhỏ hơn, chứa nhiều gỉ đồng được cho là vòng đồng và nhiều công cụ, đồ trang sức khác cùng cả vết tích xương người. Bên trên thạp nhỏ có đậy mảnh gỗ mục.

tin-nguong-phon-thuc-tren-chiec-thap-bao-vat-quoc-gia

Tượng nam nữ giao hoan trên nắp thạp đồng Đào Thịnh. Ảnh: Giang Huy.

Dân làng hay tin kéo nhau ra xem. Sau đó, Ủy ban hành chính cho người mang chiếc thạp về Ty văn hóa Yên Bái rồi giao cho Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Như nhiều địa điểm khảo cổ học khác, địa danh Đào Thịnh - nơi phát hiện thạp đồng được đặt tên cho bảo vật này. Ngoài thạp Đào Thịnh, khu vực Yên Bái còn phát hiện thêm nhiều cổ vật nổi tiếng như thạp Hợp Minh, thạp Tân Hợp… cùng hơn 30 chiếc thạp kích cỡ khác nhau, có hoặc không có nắp.

Điều thu hút là trên nắp thạp Đào Thịnh có đắp nổi 4 cặp tượng đồng thể hiện hình ảnh 4 đôi nam nữ đang giao hoan. Người nam xõa tóc, đóng khố, đeo dao găm ngang hông. Người nữ mặc váy ngắn. Đặc biệt, bộ phận sinh dục của người nam được thể hiện rất rõ. Theo ông Bùi Minh Cúc (xã Đào Thịnh), một trong những người cùng phát hiện ra thạp đồng, trên nắp thạp có 5 cặp tượng. Một đôi nằm trên cao nhất ở nóc thạp, 4 đôi còn lại ở 4 góc. Hồi phát hiện chiếc thạp, ông Cúc còn bé, người làng cũng không biết đây là báu vật nên nhặt đem về. Người thì ghè lấy tượng đàn ông, người ghè lấy tượng đàn bà. Đến nay, trên nắp thạp chỉ còn lại 2 cặp tượng đồng tương đối hoàn chỉnh.

GS Ngô Đức Thịnh, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, cho hay tượng nam nữ giao hoan trên nắp thạp đồng là biểu tượng của tín ngưỡng phồn thực trong văn hóa dân gian. Tín ngưỡng này đậm nét trong cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, đặc biệt là thời kỳ văn hóa Đông Sơn. Trong quan niệm của người xưa, trời là dương, đất là âm. Âm dương kết hợp khiến cho vạn vật sinh sôi nảy nở là quan niệm xuyên suốt, chi phối văn hóa của nhiều dân tộc phương Đông, trong đó có Việt Nam.

"Những cặp tượng trên không mang ý nghĩa tục tĩu mà là quan niệm tốt lành. Khi âm dương hài hòa tạo ra sự sinh sôi nảy nở. Con người thời nay khó tạo ra được những hình tượng như vậy", ông nói.

Giáo sư Thịnh lý giải thêm, với cư dân trồng lúa nước thì yếu tố con người rất quan trọng, luôn mong muốn được con đàn cháu đống. Họ ký thác vào những công cụ, nhạc khí trong sinh hoạt hàng ngày. Đó gọi là ma thuật bắt chước, con người làm mẫu để tự nhiên cũng bắt chước theo. Do vậy, vào mùa xuân, khi khí dương thịnh, người ta hay làm giả hình tượng âm dương thông qua các nghi lễ biểu trưng cho hành vi tính dục. 

Thời kỳ văn hóa Đông Sơn có nhiều tín ngưỡng đan xen tồn tại nhưng phồn thực vẫn là tín ngưỡng nổi bật. Tín ngưỡng này còn kéo dài đến ngày nay, được biến điệu đi, như tục thờ nõ nường được bảo lưu tại một số tỉnh miền Bắc. Ngoài thạp Đào Thịnh, một số đồ đồng khác cũng có những hoa văn hoặc tượng đúc nổi mang tín ngưỡng phồn thực này.

Nếu nắp thạp thể hiện tín ngưỡng thì thân thạp lại phản ánh sinh động cuộc sống của cư dân nông nghiệp với những trang trí hoa văn tinh tế. Thân thạp đồng là khối hình trụ xuôi nhỏ về đáy được trang trí nhiều vòng tròn bằng các hoa văn hình học, hình các loại chim và bò sát, hình người hóa trang đứng trên thuyền với nhiều tư thế. Tám chiếc thuyền chia thành 4 cặp. Trên thuyền, phía trước là tốp người ở trần làm nhiệm vụ chèo thuyền, những chiến binh phía sau đầu đội mũ lông chim, đóng khố tua dài. Chim lạc bay trên đầu, dưới là các loài cá, chim, thú… Điều này cho thấy, từ xa xưa, cư dân Đông Sơn không chỉ giỏi về kỹ thuật đúc đồng mà còn rất tinh thông thủy chiến.

Từ xưa, thạp đồng được dùng để đựng rượu trong những buổi tế lễ lớn, hoặc cất giữ lương thực, đựng ngũ cốc, nước. Thạp Đào Thịnh chứa đựng than tro cốt có thể liên quan đến tục hỏa táng của người Việt cổ. Như vậy, chức năng của thạp đồng đã được biến đổi, ban đầu là nhạc khí, thể hiện vị thế của người sở hữu nhưng sau trở thành "quan tài" chứa đựng xương cốt và đồ tùy táng.

tin-nguong-phon-thuc-tren-chiec-thap-bao-vat-quoc-gia-1

Chiếc thạp cao gần một mét là hiện vật lớn nhất trong số thạp hiện nay. Ảnh: Giang Huy.

Theo PGS.TS Trịnh Sinh, thạp đồng Đào Thịnh được đánh giá là hiện vật đặc trưng cho văn hóa Đông Sơn. Đặc biệt, 4 cặp tượng nam nữ được đúc nổi rất đẹp mà nhiều chiếc thạp khác không có. Hoa văn tinh mỹ không kém gì hoa văn trên trống đồng Ngọc Lũ hay Cổ Loa. Cho đến nay, kích thước chiếc thạp lớn cho thấy không phải kíp thợ nào cũng đúc được một sản phẩm bề thế như vậy. Năm 2008, nghệ nhân Lê Văn Bảy ở làng đúc đồng truyền thống Chè Đông, xã Thiệu Trung (Thiệu Hóa, Thanh Hóa) đúc được chiếc thạp đồng cao 1,5 m bằng phương pháp thủ công đã mất 3 tháng.

Trung tâm của nền văn hóa Đông Sơn là Thanh Hóa nhưng thạp đồng lại được tìm thấy nhiều ở Yên Bái bởi nơi đây tập trung nhiều mỏ quặng, cũng như nhiều tù trưởng có quyền lực. "Người chủ sở hữu chiếc thạp này cũng là một thủ lĩnh hùng mạnh. Trong văn hóa Đông Sơn, thủ lĩnh lớn nhất là vua Hùng. Trong các thư tịch, truyền thuyết cũng ghi rõ chỉ những thủ lĩnh hùng mạnh mới được sở hữu trống đồng, thạp đồng. Người dân bình thường không có", ông lý giải.

Nhiều nghiên cứu cho thấy, những hoa văn hình người, thuyền… trên thân thạp giống với hoa văn ở những chiếc trống đồng Đông Sơn đẹp nhất, chứng tỏ thạp Đào Thịnh ra đời trong giai đoạn Đông Sơn điển hình. Nếu như trống đồng lan tỏa rộng khắp vùng Đông Nam Á thì thạp đồng chỉ giới hạn trong cộng đồng cư dân Đông Sơn cổ, cụ thể là miền Bắc Việt Nam. 

Bảo vật như một thông điệp từ quá khứ, phản ánh cuộc sống sinh động của cư dân Đông Sơn, khi xã hội chưa hình thành chữ viết nhưng kỹ thuật đúc đồng thì đã đạt đến đỉnh cao. Trong đó, trống đồng, thạp đồng là những hiện vật điển hình nhất của nền văn hóa này.

Đông Sơn là tên một làng nằm ở bờ sông Mã (Thanh Hóa). Năm 1924, người nông dân Nguyễn Văn Lắm khi ra bờ sông Mã câu cá đã tìm thấy một số đồ đồng ven bờ sông sạt lở. Viên thuế quan người Thanh Hóa khi ấy là Pajot đã mua lại và đem đến Học viện Viễn Đông Bác Cổ để xác định giá trị. Được sự ủy quyền của giám đốc học viện, Pajot đã tiến hành nhiều đợt khai quật kéo dài từ năm 1924 đến 1932 và thu được nhiều hiện vật có giá trị ở khu vực này. Mười năm sau, nhà nhân học người Áo R.Von Heine - Geldern đã đề xuất tên gọi Văn hóa Đông Sơn để chỉ một nền văn hóa thuộc giai đoạn phát triển của thời đại đồng thau ở khu vực Đông Nam Á.

Phạm vi phân bố của văn hóa Đông Sơn tập trung ở lưu vực ba con sông lớn là sông Hồng (các tỉnh đồng bằng châu thổ Bắc Bộ), sông Mã (Thanh Hóa), sông Cả (Nghệ An). Đỉnh cao của văn hóa Đông Sơn là nghề luyện kim, đúc đồng, trên cơ sở đó đã góp phần thúc đẩy kinh tế, chính trị, xã hội, quân sự, dẫn tới việc hình thành các nhà nước sơ khai trong lịch sử Việt Nam. Quá trình phát hiện và nghiên cứu văn hóa Đông Sơn trên nhiều phương diện có ý nghĩa mở đầu chặng đường dài tìm về dân tộc, quốc gia, nhà nước Việt Nam. 

Hoàng Phương

 
 
Trưng bày hơn 200 kỷ vật về Tổng bí thư Trường Chinh
Kỷ niệm 110 năm ngày sinh cố Tổng bí thư Trường Chinh (1907-2017), Văn phòng Trung ương Đảng và Bộ Văn hóa tổ chức triển lãm "Tổng bí thư Trường
Những tin nhắn hài hước về tình yêu dưới đây vừa mang tính giải trí, lại bổ sung đáng kể vốn từ vựng tiếng Anh.