Thứ tư, 2/2/2011 | 15:29 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ |
Thứ tư, 2/2/2011 | 15:29 GMT+7

Hoa tóc tiên nở

Đã nhiều năm định cư ở Đức, chúng tôi hầu như không có mùa xuân với nghĩa "tiết xuân". Cảm giác se lạnh, dìu dịu, pha những hạt mưa bụi vương trên tóc, thấm trên vai từ lâu đã chẳng còn.

Thiếu vắng hẳn thân sắc của những cành đào, cành mai tươi tắn được cắm trong bình sứ, đặt ngay ngắn bên bàn thờ tổ tiên ngày tết. Rồi những tờ lịch trên tường hối hả kéo thời gian lại gần với tết cũng chẳng làm các con trẻ háo hức đợi chờ.

Người Việt Nam có câu “nhập gia tuỳ tục, đáo giang tuỳ khúc". Một khi chúng tôi đã gia nhập vào đời sống xã hội Đức, vậy nên chúng tôi phải theo cái "tục" của người Đức. Nghĩa là học tập, làm việc và nghỉ nghơi theo lịch Đức. Buồn một nỗi là ba ngày tết cổ truyền của ta thường lại không rơi vào những ngày cuối tuần, vì thế tết thì tết vẫn cứ phải đi làm. Với hoàn cảnh điều kiện như vậy, đa số các gia đình chỉ làm cơm vào những ngày hăm ba, ba mươi và mùng một. Tuy các gia đình có tổ chức tết khác nhau, nhưng vẫn có một mẫu số chung là chiều tối sau khi đi làm về lúc 18.00 giờ mới bắt đầu làm cỗ. Khi các gia đình người Đức bắt đầu mở tivi để xem chương trình thời sự, thì cũng là lúc chúng tôi xin lộc các cụ để lời cầu nguyện của mình sớm trở thành hiện thực.

Không có màu sắc vạn hoa của chợ xuân, không có không khí hồi hộp đợi chờ thời khắc giao thừa của trời đất, không có rượu nồng pháo nổ…chúng tôi lặng lẽ chúc nhau sức khoẻ để ngày mai chớ có gục ngã trên tuyết lạnh xứ người.

Tuy phải tranh thủ thời gian để làm cỗ tết, nhưng trên bàn thờ của mỗi nhà vẫn có đủ các thức, món truyền thống để dâng lên Trời- Phật, Tổ tiên -cụ kị, ông bà –cha mẹ : mâm ngũ quả, mứt ngũ vị, bánh chưng, miến măng, giò chả… và không bao giờ quên lọ dưa hành. Sau khi thắp hương, các con tôi đứng phía sau và theo tôi chắp tay cúng cụ. Các cháu được sinh ra ở Đức. Trong nhà trường, hay ra ngoài xã hội các cháu học và sống theo văn hoá Đức. Nhưng khi ở nhà thì các cháu lại phải sống theo tập tục Việt Nam. 

Với hoàn cảnh như vậy thì ngày tết Nguyên đán đối với chúng cũng chỉ vui một chút như một ngày cuối tuần nào đó. Trong khi ăn, chúng tôi nói chuyện về quê nhà. Tôi cố gắng giảng giải cho bọn trẻ biết ý nghĩa của ngày tết và phong tục tập quán Việt Nam.

Bữa cơm tết cũng phải nhanh chóng kết thúc để sáng mai đúng 6 giờ cả nhà phải dậy để chuẩn bị cho một ngày học tập và làm việc mới. Như lệ thường, sau tết chúng tôi hoá vàng. Sợ người Đức tò mò khó hiểu, tôi không dám hoá dưới sân chung. Sợ hàng xóm tầng trên kêu ca vì khói, tôi không dám hoá ở ngoài ban công. Cuối cùng tôi phải để vàng mã vào trong một cái chảo và hoá ở trong bếp.

Chúng tôi đón tết như vậy đấy. Không có hoa đào pháo nổ, không có không khí ầm ào râm ran chúc tụng của người thân hay bè bạn, chỉ lặng lẽ âm thầm, lòng chúng tôi quặn đau trong nỗi niềm nhớ quê hương và người thân vô tận. Đơn sơ quá, vội vàng quá, thắp nén hương cho tổ tiên mà lòng nặng trĩu ưu phiền, tự trách mình đã thất hiếu với ông bà, cha mẹ.

Lần lần nhớ lại những ngày mới thống nhất nước Đức, nhà máy đóng cửa, đám "thợ khách" chúng tôi lâm vào cảnh thất nghiệp. Lúc ấy mỗi người phải tự tạo lập cho mình một cuộc sống mới từ hai bàn tay trắng. Giai đoạn này chúng tôi không có tết. Nhà ở không có, nhiều người phải tá túc nhờ nơi bạn bè. Hoặc có khi vài ba người phải thuê chung một phòng nhỏ. Chúng tôi không có thể lập bàn thờ để dâng hương ba ngày tết. Tối giao thừa, anh em hẹn nhau ở một phòng nào đấy nâng ly rượu suông cùng nhau hướng về quê cha đất tổ.

Rồi sáng mùng một tết, mở mắt ra chúng tôi bất chợt thấy lá cờ của Cộng hoà liên bang Đức bay phấp phới trong doanh trại mà chỉ mới hôm qua là của quân đội Cộng hoà dân chủ Đức. Vậy là sau đó ở trong thành phố, khắp nơi nhan nhản khẩu hiệu của tổ chức Phát xít mới: "Bọn nước ngoài cút đi" , "Bọn Do thái cút đi“. Các nhóm đầu trọc bắt đầu nổi lên như nấm độc sau cơn mưa. Ban ngày chúng săn tìm những người nước ngoài ở ngoài phố, ban đêm chúng ném gạch đá và chai xăng vào nhà. Năm 1992, tối ngày mùng một, ngôi nhà mà mấy anh em chúng tôi hẹn nhau tới đón tết đã bị bọn đầu trọc chẹn cửa rồi tưới xăng đốt. Những ngày đen tối ấy, máu và nước mắt của những người "thợ khách“ đã phải đổ xuống trên mảnh đất phì nhiêu này.

Nhưng hôm nay thì khác rồi. Sau khi vượt qua sóng to gió cả, con thuyền của chúng tôi đã căng buồm lướt đi vững vàng trên đại dương rộng lớn. Vị thế của những người "thợ khách“ năm xưa ngày càng được khẳng định và nâng cao trên đất Đức. Vài năm trở lại đây, chúng tôi đã tổ chức được nhiều hội, đoàn, câu lạc bộ, thậm chí một số nơi đã xây được chùa. Do đó đời sống văn hoá tinh thần trong cộng đồng được cải thiện rất nhiều.

Tết Nguyên đán là một điểm nhấn sáng nhất trong năm. Chúng tôi chọn một ngày chủ nhật gần nhất để tổ chức đón tết mừng xuân. Trong một hội trường rộng, tất cả các gia đình người Việt cùng bạn bè khác hân hoan gặp gỡ, nâng cốc chia vui. Chúng tôi có tiệc mặn, tiệc ngọt, có ca hát nhảy múa và đội lân sư đến từ các lò võ dân tộc. Một cây quất trĩu quả hay một cành đào giả đặt trang trọng trên khán đài, vẫn tạo nên nét chấm phá đặc sắc cho phong cách tết cổ truyền. Ở đây các bạn người Đức và lớp trẻ Việt Nam có dịp tìm hiểu thêm về nền văn hoá lâu đời của chúng ta.

Khác với thế hệ thứ nhất ở Đức - thế hệ của các "thợ khách" nhọc nhằn , bươn trải trong mưu sinh, thế hệ thứ hai, thứ ba của chúng tôi đang vươn mình trỗi dậy. Họ đẹp như hoa nở báo hiệu thời khắc của mùa xuân trên đất Đức. Ở nhà mình, các cháu biết chắp tay trước bàn thờ gia tiên. Ngoài xã hội và trong trường học, các cháu đã mang lại những giá trị chân chính và danh dự cho cộng đồng. Nhân những ngày lễ tết trong năm, chúng tôi vẫn quây quần bên nhau cùng ôn lại những kỷ niệm xưa, nhắc nhở lớp trẻ luôn nhớ tới công lao của tổ tiên, ông bà, cha mẹ và cùng đoàn kết một lòng hướng về Tổ quốc.

*
* *

Đã nhiều năm nay, thường thường cứ ba năm gia đình tôi lại về Việt Nam ăn Tết một lần. Nhưng năm nay chúng tôi phải phá lệ, tôi mới nhận được thư của người anh từ bên Mỹ gửi qua. Bức thư anh ấy viết đã làm tôi sung sướng đến sững sờ. Đã gần sáu mươi năm nay, anh tôi không bước chân về làng. Âu cũng là do hoàn cảnh mang lại. Đây là bức thư tâm huyết:

Nevada ngày 15. 10. 2010
Hai em cùng các cháu xa nhớ.
Đã ba tháng trôi qua kể từ ngày các em tới thăm anh chị, anh đã phải suy nghĩ rất nhiều. Lúc nào trong anh cũng vang lên tiếng gọi của quê hương“ trở về“. Ông cha ta đã có câu “lá rụng về cội“. Hôm nay anh chị đã ra lớp người "xưa nay hiếm", nếu không về cội thì về đâu?

Anh xa quê hương đã lâu lắm rồi, nhưng dù ở đâu, làm việc gì, trong lòng anh vẫn canh cánh một niềm thương nhớ.

"Nhớ dáng mẹ già tất tưởi,
Dáng cha già quắc thước thuở năm nao.
Và mỗi chiều ra sông gánh nước,
Bụi tơ hồng em thả khỏi nước trao".

Anh đã viết như vậy không chỉ trong nhật ký mà anh còn cất giữ cả trong con tim mình. Quê hương luôn hiện lên trong anh với những hình bóng đẹp nhất, mến thương nhất. Mùa đông năm trước sang thăm anh, khi đi chơi chợ Noel, em hỏi:“Anh có còn nhớ được cảnh tết ở làng mình không?“.

Mặc dù anh đã bỏ làng ra đi từ khi mới mười tám tuổi đầu, nhưng cho đến tận bây giờ anh vẫn giữ nguyên được những cảm xúc ngọt ngào với cái tết quê hương. Nhớ nhất là ngày ba mươi tết. Trời tuy lạnh nhưng sáng và trong veo. Nhà mình nghèo nên mãi tới sáng ba mươi mới đụng được thịt heo trong làng. Anh quẩy đôi nồi đình ra bến gánh nước. Con sông Nhuệ vào mùa này nước xanh ngăn ngắt. Lội xuống nước không thấy lạnh mà chỉ thấy mát vào tận gan ruột.

Khi anh đổ đầy được chum nước thì u cũng đã xếp xong lá dong lên cái nong đặt trước hiên nhà. Bàn tay nâu bóng đồng đất làng quê của u nâng niu những hạt gạo nếp căng tròn và trắng ngần đã được ngâm từ đêm hôm trước. Anh còn nhớ lời u dạy khi buộc lạt bánh: “Con phải giữ chặt hai đầu lạt, từ từ xoắn lại rồi thả nhẹ xuống, làm sao cho đầu lạt cuộn lại nhỏ như cứt con chim cu. Nút lạt như thế mới là đẹp“.

Sau khi lau chùi bàn thờ, thày ra sau vườn chọn một cành đào đẹp đặt bên bàn thờ, rồi cùng các cụ đi dựng cây nêu ngoài đình làng. Đêm hôm đó cả nhà ngồi bên nồi bánh chưng, vừa sưởi ấm vừa nghe bà ngoại kể chuyện Kiều. Cả nhà quây quần như vậy cho đến thời khắc giao thừa.

Hai em cùng các cháu mến thương, anh mong lắm được sống lại trong khung cảnh đơn sơ mà đầm ấm của cái tết năm xưa.“Sông có khúc người có lúc“, cái gì nên quên thì anh đã quên, cái gì cần nhớ thì anh đã nhớ. Đời anh nhiều khúc quanh co, trắc ẩn. Nhưng đến khúc này anh có linh cảm rằng sẽ êm đềm tươi mát khi được về với giòng Nhuệ giang quê mình.

Thượng tuần tháng một, anh chị sẽ sang bên em và chúng ta sẽ bay về trước ngày cúng ông Táo. Ngày tháng cụ thể thế nào, anh chị sẽ tin cho các em qua fax.
Chúc hai em và các cháu mạnh khoẻ. Hẹn ngày gặp mặt.
Hoàng

Anh Hoàng là người anh cùng cha khác mẹ với tôi. Năm 1954, chống lại ý cha anh quyết định di cư vào Nam. Khi ấy anh mới đi lính cho quân đội Pháp. Từ đấy anh không quay lại cái nôi nơi cha mẹ đã sinh ra và nuôi anh lớn lên bằng hạt lúa, củ khoai được vắt ra từ đồng đất làng Cầu quê tôi nữa. Cũng từ đấy trở đi, gia đình không biết gì về cuộc sống của anh nơi mù xa.

Năm 1971 tôi đi bộ đội, chiến đấu vài trận. Đầu năm 1975 tôi mới biết anh là trung tá quân đội của Việt Nam cộng hòa. Đến năm 1977 sau khi xuất ngũ , tôi vào Nam tìm thì được gia đình cho biết anh được đưa đi cải tạo ở mãi ngoài Bắc. Tôi lại lần tìm địa chỉ rồi đến được Ấm Thượng thăm anh. Lúc đầu anh tỏ ra dè dặt, lãnh đạm. Nhưng sau vài lần thăm nuôi, thấy tình cảm của tôi là chân thật, anh em hiểu nhau dần dần anh cởi mở kể hết chuyện xưa. Hóa ra từ hồi đánh Quảng Trị, cho đến chiến trường Lào hay trận Đắc Tô, anh em chúng tôi chỉ cách nhau một trận tuyến.

Sau khi cải tạo, anh Hoàng đưa cả gia đình sang Mỹ định cư. Từ đấy hai anh em không gặp nhau nữa. Mãi sau này anh gửi thư về, hai bên mới nối lại được tình cảm. Các cháu vẫn thường mail cho nhau. Mấy năm trước tôi đã hai lần sang thăm gia đình anh, vui lắm toàn chuyện trên trời dưới biển. Nhưng chuyện gì thì chuyện, hễ tôi gợi ý anh chị cho các cháu về quê ăn tết là anh lắc đầu quầy quậy. Mùa hè vừa qua vợ chồng tôi lại sang thăm anh chị. Chuyện trò thế nào lại dẫn đến cái tết ở quê, anh vẫn một mực“ không".

Hôm ấy gần tới ngày về Đức, cả nhà rủ nhau đi bơi . Khi tôi và anh ở trong phòng tắm, ngứa lưng tôi nhờ anh kỳ giúp. Khi chạm vào vết sẹo sau lưng tôi, anh dừng tay lại. Ngậm ngùi một lúc sau anh mới nói: “Nếu như không bỏ vào Nam đận ấy, chắc rằng anh cũng sẽ đi bộ đội như em“. Tôi nói: “Thôi mà anh, chuyện qua lâu rồi" . Liền đó anh ngồi trầm ngâm hàng giờ bên bình trà sen trên bãi cỏ cho đến lúc trời chiều.

Và như mọi người đã biết, tháng mười anh viết thư cho chúng tôi hẹn ngày trở về. Đây là lần đầu tiên anh tôi sẽ đặt chân trở lại mảnh đất chôn nhau cắt rốn sau gần sáu mươi năm xa cách . Cũng có thể đó là lần cuối cùng…nhưng như anh bảo: "Được một lần cúi mình trước tổ tiên, tuy có muộn màng, nhưng anh tin rằng các cụ sẽ độ lượng mỉm cười. Được như vậy, một khi xác thân này phải đi vào trong cỏ, ta vẫn thấy thanh thản tâm hồn“.

Năm 2010, ở Đức chúng tôi bất ngờ hứng chịu một mùa đông khốc liệt. Từng lớp tuyết thay nhau phủ dày trên mặt đất rồi nén lại thành băng. Nằm bên dưới lớp băng lạnh cóng ấy, ít ai biết được vẫn đang có một sự sống mãnh liệt dâng trào. Nó nằm đó từng phút kiên nhẫn đợi chờ . Đó chính là mầm hoa tóc tiên - một loại hoa được coi là thấp bé nhất, yếu đuối nhất trong tất cả các loại hoa . Ấy vậy mà chỉ cần lớp băng cuối cùng vừa tan chảy thì nó là thứ hoa đầu tiên vươn mình trỗi dậy khoe thắm sắc màu.

Nhìn thấy hoa tóc tiên nở, biết rằng mùa xuân đã tới.

Nguyễn Công Tiến

Mời độc giả gửi bài dự thi viết về cảm xúc Tết ở đây.

Vietnam Airlines hân hạnh tài trợ cuộc thi 'Xuân Quê hương'. Xin mời xem thể lệ tại đây.



 

Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên google+ Email cho bạn bè