Thứ bảy, 5/7/2003 | 13:00 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ |
Thứ bảy, 5/7/2003 | 13:00 GMT+7

Luật tổ chức HĐND và UBND (dự thảo 5/5)

Chương II - Hội đồng nhân dân

Mục I - Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân

Điều 10. (mới)

Hội đồng nhân dân thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Trung ương đồng thời phát huy quyền chủ động, sáng tạo của địa phương.

Khi quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Hội đồng nhân dân ra nghị quyết; những nghị quyết về các vấn đề mà pháp luật quy định thuộc quyền phê chuẩn của cấp trên thì trước khi thi hành phải được cấp trên phê chuẩn.

Điều 11. (mới)

Hội đồng nhân dân tỉnh thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:

1- Trong lĩnh vực kinh tế

a) Quyết định chủ trương, biện pháp nhằm quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng của địa phương, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và làm tròn trách nhiệm với cả nước;

b) Quyết định quy hoạch, kế hoạch dài hạn, ngắn hạn và kế hoạch hàng năm về phát triển kinh tế - xã hội, sử dụng đất đai, phát triển ngành và quy hoạch xây dựng, phát triển đô thị, nông thôn trong phạm vi quản lý;

Quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới khuyến nông và khuyến công ở địa phương và thông qua cơ chế khuyến khích phát triển sản xuất, chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển các thành phần kinh tế ở địa phương; đảm bảo quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của các cơ sở kinh tế theo quy định của pháp luật;

c) Quyết định dự toán thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách cấp mình; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương; quyết định các chủ trương, biện pháp triển khai thực hiện ngân sách và điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết.

Quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân sách ở địa phương theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước;

Quyết định thu phí, lệ phí và các khoản đóng góp của nhân dân và mức huy động vốn theo quy định của pháp luật.

d) Quyết định phương án quản lý và sử dụng nguồn nhân lực; phương án quản lý và sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển theo quy định của pháp luật;

đ) Quyết định biện pháp thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng và chống buôn lậu.

2- Trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội:

a) Quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới giáo dục mầm non, giáo dục phố thông; mạng lưới khám, chữa bệnh, văn hóa, thông tin, thể thao; biện pháp bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa ở địa phương; bảo đảm cơ sở vật chất và điều kiện cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin, thể thao ở địa phương theo hướng dẫn của Chính phủ;

 b) Quyết định chủ trương, biện pháp sử dụng lao động, giải quyết việc làm và cải thiện điều kiện làm việc, sinh hoạt của người lao động; phân bổ dân cư và cải thiện đời sống nhân dân ở địa phương;

c) Quyết định biện pháp giáo dục thanh niên, bảo vệ, chăm sóc thiếu niên và nhi đồng; xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa; giáo dục truyền thống đạo đức tốt đẹp, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc. Quyết định biện pháp ngăn chặn việc truyền bá văn hóa phản động, đồi trụy, bài trừ mê tín, hủ tục và phòng chống các tệ nạn xã hội, các biểu hiện không lành mạnh trong đời sống xã hội ở địa phương;

d) Quyết định biện pháp quản lý và bảo vệ sức khỏe nhân dân; bảo vệ và chăm sóc người già, bà mẹ, trẻ em; thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình, phát triển y tế địa phương và phòng, chống dịch bệnh;

đ) Quyết định biện pháp thực hiện chính sách, chế độ đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, những người và gia đình có công với nước; thực hiện chính sách bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội và xóa đói, giảm nghèo.

3- Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, và tài nguyên, môi trường:

a) Quyết định chủ trương, biện pháp khuyến khích việc nghiên cứu, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ sản xuất và đời sống ở địa phương;

b) Quyết định biện pháp bảo vệ tài nguyên, môi trường; phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt, suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường ở địa phương theo quy định của pháp luật;

c) Quyết định biện pháp thực hiện các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn đo lường và chất lượng sản phẩm, ngăn chặn việc sản xuất và lưu hành hàng giả, hàng kém chất lượng tại địa phương, bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng.

4- Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội:

a) Quyết định biện pháp thực hiện nhiệm vụ kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế và thực hiện nhiệm vụ xây dựng lực lượng dự bị động viên ở địa phương;

b) Quyết định biện pháp đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng ngừa và chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác ở địa phương.

5- Trong việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo:

a) Quyết định biện pháp bảo đảm thực hiện chính sách dân tộc, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, nâng cao dân trí của đồng bào các dân tộc, bảo đảm thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc, giữ gìn, tăng cường khối đoàn kết và tương trợ giữa các dân tộc ở địa phương;

b) Quyết định biện pháp bảo đảm thực hiện chính sách tôn giáo, quyền bình đẳng giữa các tôn giáo trước pháp luật, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào của công dân ở địa phương theo quy định của pháp luật.

6- Trong lĩnh vực thi hành pháp luật:

a) Quyết định biện pháp bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên ở địa phương;

b) Quyết định biện pháp bảo hộ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân; bảo vệ tài sản, lợi ích của Nhà nước, bảo hộ tài sản của các cơ quan, tổ chức và cá nhân ở địa phương;

c) Quyết định biện pháp bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân theo quy định của pháp luật.

7- Trong lĩnh vực xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính:

a) Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm: Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; thành viên các ban của Hội đồng nhân dân; các thành viên khác của Ủy ban nhân dân và Hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân cùng cấp. Bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân và chấp nhận việc đại biểu Hội đồng nhân dân xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu theo quy định của pháp luật;

b) Phương án 1: Bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu theo đề nghị của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp hoặc khi có hai phần ba đại biểu Hội đồng nhân dân yêu cầu.

Phương án 2: Phê chuẩn việc bổ nhiệm thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp và bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu và phê chuẩn theo đề nghị của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp hoặc khi có hai phần ba đại biểu Hội đồng nhân dân yêu cầu.

c) Phê chuẩn cơ cấu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện; quyết định thành lập, sáp nhập, giải thể một số cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp phù hợp với đặc điểm riêng của địa phương theo hướng dẫn của Chính phủ;

d) Quyết định tổng biên chế sự nghiệp ở địa phương phù hợp với yêu cầu phát triển và khả năng ngân sách địa phương; thông qua kế hoạch biên chế hành chính trước khi trình cấp có thẩm quyền quyết định;

Quyết định một số chế độ khuyến khích, chính sách thu hút đối với cán bộ, công chức trân địa bàn trong phạm vi bảo đảm của ngân sách địa phương. Quyết định số lượng và mức phụ cấp đối với cán bộ không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn trên cơ sở hướng dẫn của Chính phủ;

đ) Thông qua đề án thành lập mới, nhập, chia và điều chỉnh địa giới hành chính; Quyết định việc đặt tên, đổi tên đường, phố, quảng trường, công trình công cộng ở địa phương theo quy định của pháp luật.

e) Quyết định bãi bỏ các quyết định sai trái của Ủy ban nhân dân cùng cấp; bãi bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi đối với các nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân cấp huyện;

Quyết định giải tán Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp trong trường hợp Hội đồng nhân dân đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân, trình Ủy ban Thường vụ phê chuẩn trước khi thi hành.

Phê chuẩn nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện về việc giải tán Hội đồng nhân dân cấp xã.

Điều 12. (mới)

Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện những quy định tại Điều 11 của Luật này phù hợp với tình hình, đặc điểm của địa phương mình và thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau:

1- Quyết định biện pháp phát huy vai trò trung tâm kinh tế - xã hội của đô thị lớn trong mối liên hệ với các địa phương trong vùng, khu vực và cả nước theo phân cấp của Chính phủ;

2- Thông qua kế hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị, quy hoạch tổng thể về xây dựng và phát triển đô thị để trình Chính phủ phê duyệt;

3- Quyết định biện pháp bảo đảm trật tự công cộng, an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ, bảo vệ môi trường và cảnh quan đô thị;

4- Quyết định biện pháp quản lý dân cư ở thành phố và tổ chức đời sống dân cư đô thị.

Điều 13. (mới)

Hội đồng nhân dân huyện thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau:

1- Trong lĩnh vực kinh tế:

a) Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung hạn và hàng năm; chủ trương, biện pháp về xây dựng và phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã và kinh tế hộ gia đình ở địa phương;

b) Quyết định biện pháp bảo đảm thực hiện chương trình khuyến nông, khuyến công và biện pháp phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế ở địa phương, bảo đảm quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các cơ sở kinh tế theo quy định của pháp luật;

c) Quyết định dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách cấp mình; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương; quyết định các chủ trương, biện pháp triển khai thực hiện ngân sách; điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết và giám sát việc thực hiện ngân sách đã được Hội đồng nhân dân quyết định;

d) Quyết định quy hoạch, phát triển mạng lưới giao thông, thủy lợi và biện pháp bảo vệ đê điều, công trình thủy lợi, bảo vệ rừng theo quy định của pháp luật;

đ) Quyết định biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng và chống buôn lậu;

2- Trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, xã hội và đời sống:

a) Quyết định biện pháp giữ gìn, bảo quản, trùng tu và phát huy giá trị các công trình văn hóa, nghệ thuật, di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh theo phân cấp;

b) Quyết định các biện pháp và điều kiện cần thiết để xây dựng và phát triển mạng lưới giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông trên địa bàn theo quy hoạch chung;

c) Quyết định biện pháp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, phòng, chống dịch bệnh và tệ nạn xã hội; chăm sóc người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa, bà mẹ, trẻ em; thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình;

d) Quyết định biện pháp thực hiện chính sách ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, những người và gia đình có công với nước.

3- Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và môi trường:

a) Quyết định biện pháp ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật phục vụ sản xuất và đời sống ở địa phương;

b) Quyết định biện pháp bảo vệ và cải thiện môi trường; phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt trên địa bàn;

c) Quyết định biện pháp thực hiện các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn đo lường và chất lượng sản phẩm, ngăn chặn việc sản xuất và lưu hành hàng giả tại địa phương, bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng.

4- Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội:

a) Quyết định biện pháp kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế;

b) Quyết định biện pháp thực hiện nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội; biện pháp đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác ở địa phương.

5- Trong việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo:

a) Quyết định thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa và vùng còn nhiều khó khăn;

b) Quyết định biện pháp bảo đảm việc thực hiện chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo theo quy định của pháp luật.

6- Trong lĩnh vực thi hành pháp luật:

a) Quyết định biện pháp bảo hộ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân;

Biện pháp bảo vệ tài sản, lợi ích của Nhà nước, bảo hộ tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương;

b) Quyết định biện pháp bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân theo quy định của pháp luật.

7- Trong lĩnh vực xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính:

a) Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; thành viên các ban của Hội đồng nhân dân; các thành viên khác của Ủy ban nhân dân và Hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân cùng cấp. Bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân và chấp nhận việc đại biểu Hội đồng nhân dân xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu theo quy định của pháp luật.

b) Phương án 1: Bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu theo đề nghị của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp hoặc khi có hai phần ba đại biểu Hội đồng nhân dân yêu cầu.

Phương án 2: Phê chuẩn việc bổ nhiệm thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp và bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu và phê chuẩn theo đề nghị của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp hoặc khi có hai phần ba đại biểu Hội đồng nhân dân yêu cầu.

c) Bãi bỏ những quyết định sai trái của Ủy ban nhân dân cùng cấp; bãi bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi những nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân cấp xã;

d) Quyết định giải tán Hội đồng nhân dân cấp xã trong trường hợp Hội đồng nhân dân đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phê chuẩn trước khi thi hành;

đ) Thông qua đề án thành lập mới, nhập, chia và điều chỉnh địa giới hành chính để đề nghị cấp trên xem xét theo quy định của pháp luật.

Điều 14. (mới)

Hội đồng nhân dân quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện những quy định tại Điều 13 của Luật này phù hợp với tình hình, đặc điểm của địa phương và thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau:

1- Thông qua quy hoạch tổng thể về xây dựng và phát triển đô thị của quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê duyệt;

2- Quyết định kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị của quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;

3- Quyết định biện pháp bảo đảm trật tự công cộng, giao thông; phòng chống cháy nổ và bảo vệ môi trường, cảnh quan đô thị;

4- Quyết định biện pháp quản lý dân cư đô thị và tổ chức đời sống dân cư trên địa bàn;

5- Quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch đô thị đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Điều 15. (mới)

Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

1- Trong lĩnh vực kinh tế:

a) Quyết định biện pháp thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm; biện pháp thực hiện chương trình khuyến nông, khuyến công và chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cây trồng, vật nuôi trong phạm vi quản lý;

b) Quyết định dự toán, phân bổ ngân sách địa phương; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương; các chủ trương, biện pháp để triển khai thực hiện ngân sách địa phương và điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật;

c) Quyết định biện pháp xây dựng và phát triển hợp tác xã, tổ hợp tác, kinh tế hộ gia đình ở địa phương;

d) Quyết định biện pháp thực hiện xây dựng, tu sửa đường giao thông liên xã, cầu, cống trong xã và các cơ sở hạ tầng khác ở địa phương.

2- Trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, xã hội và đời sống:

a) Quyết định biện pháp bảo đảm các điều kiện cần thiết để trẻ em vào học tiểu học đúng độ tuổi, hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục; tổ chức các trường mầm non; thực hiện bổ túc văn hóa và xóa mù chữ cho những người trong độ tuổi;

b) Quyết định biện pháp phát triển hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao; hướng dẫn tổ chức các lễ hội cổ truyền, bảo vệ và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh ở địa phương theo quy định của pháp luật;

c) Quyết định biện pháp phòng, chống dịch bệnh và thực hiện chương trình y tế cơ sở, chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình;

Quyết định biện pháp bảo đảm giữ gìn vệ sinh, xử lý rác thải, bảo vệ môi trường trong phạm vi quản lý.

3- Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội:

a) Quyết định biện pháp bảo đảm thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự; xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ và quốc phòng toàn dân; thực hiện nhiệm vụ hậu cần tại chỗ; thực hiện chính sách hậu phương quân đội và chính sách đối với các lực lượng vũ trang nhân dân ở địa phương;

b) Quyết định biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác trên địa bàn.

4- Trong việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo:

a) Quyết định biện pháp bảo đảm thực hiện chính sách dân tộc, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, nâng cao dân trí của đồng bào các dân tộc; bảo đảm thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc, giữ gìn, tăng cường khối đoàn kết và tương trợ giữa các dân tộc ở địa phương;

b) Quyết định biện pháp bảo đảm thực hiện chính sách tôn giáo, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân địa phương theo quy định của pháp luật.

5- Trong lĩnh vực xây dựng chính quyền địa phương:

a) Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, và Ủy ban nhân dân; thành viên Thường trực Hội đồng nhân dân và các thành viên khác của Ủy ban nhân dân cùng cấp. Bãi nhiệm và chấp nhận việc đại biểu Hội đồng nhân dân xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu theo quy định của pháp luật;

b) Bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu theo đề nghị của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp hoặc khi có hai phần ba đại biểu Hội đồng nhân dân yêu cầu;

c) Bãi bỏ những quyết định sai trái của Ủy ban nhân dân cùng cấp;

d) Thông qua đề án phân vạch, điều chỉnh địa giới hành chính ở địa phương để đề nghị cấp trên xem xét, quyết định.

Điều 16. (mới)

Hội đồng nhân dân phường thực hiện những quy định tại Điều 15 của Luật này phù hợp với tình hình, đặc điểm của địa phương và thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau:

1- Quyết định biện pháp bảo đảm thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội và quy hoạch đô thị tại phường;

2- Quyết định biện pháp xây dựng nếp sống đô thị, phòng, chống các tệ nạn xã hội, giữ gìn trật tự, vệ sinh trong phạm vi quản lý, bảo vệ trật tự công cộng và cảnh quan đô thị;

3- Quyết định biện pháp quản lý dân cư trên địa bàn.

Mục II - Đại biểu Hội đồng nhân dân

Điều 17 (Giữ nguyên Điều 19 của Luật hiện hành)

Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương, gương mẫu chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện pháp luật, chính sách và tham gia vào việc quản lý Nhà nước.

Điều 18. (Giữ nguyên Điều 20 của Luật hiện hành)

Nhiệm kỳ của đại biểu Hội đồng nhân dân mỗi khóa bắt đầu từ kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khóa đó đến kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khóa sau.

Đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu bổ sung bắt đầu làm nhiệm vụ đại biểu từ kỳ họp sau cuộc bầu cử bổ sung đến kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khóa sau.

Điều 19. (Giữ nguyên Điều 21 của Luật hiện hành)

Đại biểu Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ tham dự đầy đủ các kỳ họp, phiên họp của Hội đồng nhân dân, tham gia thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân.

Đại biểu nào không tham dự được kỳ họp phải có lý do và phải báo cáo trước với Chủ tịch Hội đồng nhân dân.

Đại biểu nào không tham dự được phiên họp phải có lý do và phải báo cáo với Chủ tọa phiên họp.

Điều 20. (Bổ sung Điều 22 của Luật hiện hành)

Đại biểu Hội đồng nhân dân phải liên hệ chặt chẽ với cử tri ở đơn vị bầu ra mình, chịu sự giám sát của cử tri, có trách nhiệm thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri; thực hiện chế độ tiếp xúc và ít nhất mỗi năm một lần báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Hội đồng nhân dân, trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri.

Sau mỗi kỳ họp Hội đồng nhân dân, các đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm báo cáo với cử tri về kết quả của kỳ họp, phổ biến và giải thích các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, vận động và cùng với nhân dân thực hiện các nghị quyết đó.

Điều 21. (Giữ nguyên Điều 23 của Luật hiện hành)

Đại biểu Hội đồng nhân dân nhận được yêu cầu, kiến nghị của cử tri phải có trách nhiệm trả lời cử tri.

Khi nhận được khiếu nại, tố cáo của nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm xem xét và yêu cầu thủ trưởng các cơ quan, tổ chức hữu quan giải quyết và theo dõi, đôn đốc việc giải quyết, báo cho người đã khiếu nại, tố cáo biết kết quả.

Điều 22. (Sửa đổi Điều 24 của Luật hiện hành)

Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và các thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân và Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp. Người bị chất vấn phải trả lời về những vấn đề mà đại biểu Hội đồng nhân dân chất vấn.

Điều 23. (Giữ nguyên Điều 25 của Luật hiện hành)

Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân kịp thời chấm dứt những việc làm trái pháp luật, chính sách của Nhà nước trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc của nhân viên cơ quan, tổ chức, đơn vị đó.

Khi đại biểu Hội đồng nhân dân yêu cầu gặp người phụ trách của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân thì người đó có trách nhiệm tiếp.

Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền kiến nghị với cơ quan Nhà nước về việc thi hành pháp luật, chính sách của Nhà nước và về những vấn đề thuộc lợi ích chung. Cơ quan hữu quan có trách nhiệm trả lời kiến nghị của đại biểu.

Điều 24. (Bổ sung Điều 26 của Luật hiện hành)

Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước và cán bộ trong bộ máy chính quyền ở địa phương, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các đại biểu Hội đồng nhân dân như cung cấp tư liệu, thông tin, bảo đảm nơi tiếp xúc với cử tri, phương tiện đi lại.

Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận giúp đỡ đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp làm nhiệm vụ đại biểu, tạo điều kiện cho đại biểu tiếp xúc với cử tri, thu thập ý kiến, nguyện vọng và kiến nghị của nhân dân với Hội đồng nhân dân.

Điều 25. (Giữ nguyên Điều 27 của Luật hiện hành)

Trong thời gian Hội đồng nhân dân họp, nếu không được sự đồng ý của chủ tọa kỳ họp thì không được bắt giữ đại biểu Hội đồng nhân dân. Nếu vì phạm pháp quả tang hoặc trong trường hợp khẩn cấp mà đại biểu Hội đồng nhân dân bị tạm giữ thì cơ quan ra lệnh tạm giữ phải báo cáo ngay với chủ tọa kỳ họp.

Giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân, nếu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ra lệnh tạm giữ đại biểu Hội đồng nhân dân thì phải thông báo cho Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp.

Điều 26. (Giữ nguyên Điều 28 của Luật hiện hành)

Đại biểu Hội đồng nhân dân có thể xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu vì lý do sức khỏe hoặc vì lý do khác. Việc chấp nhận đại biểu Hội đồng nhân dân xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu do Hội đồng nhân dân cùng cấp xét và quyết định.

Điều 27. (Sửa đổi, bổ sung Điều 29 của Luật hiện hành)

Đại biểu Hội đồng nhân dân nào không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân thì tùy mức độ phạm sai lầm mà bị Hội đồng nhân dân bãi nhiệm. Thường trực Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân quyết định việc đưa ra Hội đồng nhân dân hoặc cử tri bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân theo đề nghị của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.

Trong trường hợp Hội đồng nhân dân bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân thì việc bãi nhiệm phải được hai phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành.

Trong trường hợp cử tri bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân thì việc bãi nhiệm được tiến hành theo thể thức do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định.

Điều 28. (Giữ nguyên Điều 30 của Luật hiện hành)

Đại biểu Hội đồng nhân dân phạm tội, bị Tòa án kết án và bản án đã có hiệu lực pháp luật thì mất quyền đại biểu Hội đồng nhân dân.

Mục III - Giám sát của Hội đồng nhân dân (mới)

Điều 29. (mới)

Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân được tiến hành thường xuyên, gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định.

Giám sát của Hội đồng nhân dân bao gồm: giám sát của Hội đồng nhân dân tại kỳ họp; giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân, các ban của Hội đồng nhân dân và giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân khi được Hội đồng nhân dân giao nhiệm vụ.

Điều 30. (mới)

Hội đồng nhân dân giám sát thông qua các hoạt động sau đây:

1- Tại kỳ họp, Hội đồng nhân dân:

a) Xem xét báo cáo công tác của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;

b) Thực hiện chất vấn và xem xét việc trả lời chất vấn của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân;

c) Xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp trong trường hợp có dấu hiệu trái với quy định của Hiếp pháp, văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân;

d) Thành lập Đoàn giám sát khi cần thiết;

đ) Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ các chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn;

2- Giao Thường trực Hội đồng nhân dân, các ban của Hội đồng nhân dân tiến hành một số hoạt động giám sát trong trường hợp cần thiết và xem xét báo cáo kết quả giám sát đó.

Điều 31. (mới)

Khi thực hiện nhiệm vụ giám sát do Hội đồng nhân dân giao, Đoàn giám sát có trách nhiệm:

1- Thực hiện đúng nội dung, kế hoạch giám sát và thẩm quyền, trình tự, thủ tục giám sát theo quy định của pháp luật; không làm cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức cá nhân chịu sự giám sát;

2- Thông báo nội dung, kế hoạch giám sát cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân chịu sự giám sát chậm nhất là bảy ngày trước ngày bắt đầu tiến hành hoạt động giám sát;

3- Mời đại diện Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, các tổ chức thành viên của Mặt trận tham gia giám sát và yêu cầu đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có liên quan tham gia khi cần thiết. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân được mời tham gia giám sát có trách nhiệm thực hiện yêu cầu này;

4- Trong trường hợp cần thiết, Đoàn giám sát yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng các biện pháp để chấm dứt hành vi vi phạm, xử lý người vi phạm nhằm khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị vi phạm và chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu, kiến nghị qua hoạt động giám sát của mình.

Điều 32. (mới)

Các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân có trách nhiệm:

1- Trả lời trực tiếp (hoặc trả lời bằng văn bản) các chất vấn, yêu cầu, kiến nghị của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân hoặc Đoàn giám sát của Hội đồng nhân dân;

2- Tạo điều kiện thuận lợi để Hội đồng nhân dân tiến hành giám sát; Cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết có liên quan đến nội dung giám sát và giải trình những vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của mình khi được yêu cầu (trừ những thông tin thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật);

3- Chịu trách nhiệm trước pháp luật trong trường hợp có hành vi cản trở hoặc không thực hiện những yêu cầu qua hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân.

Mục IV - Kỳ họp Hội đồng nhân dân

Điều 33. (Sửa đổi, bổ sung Điều 31 của Luật hiện hành)

Hội đồng nhân dân thảo luận và ra nghị quyết về các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình tại các kỳ họp của Hội đồng nhân dân. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân phải được quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành, trừ trường hợp bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định tại Điều 27 của Luật này. Hội đồng nhân dân quyết định việc biểu quyết bằng cách giơ tay, bỏ phiếu kín hoặc bằng cách khác theo đề nghị của chủ tọa phiên họp.

Hội đồng nhân dân các cấp họp thường lệ mỗi năm hai kỳ. Hội đồng nhân dân tổ chức các kỳ họp chuyên đề hoặc kỳ họp bất thường theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc khi có ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp yêu cầu thì Thường trực Hội đồng nhân dân quyết định triệu tập kỳ họp bất thường.

Hội đồng nhân dân họp công khai. Khi cần thiết, Hội đồng nhân dân quyết định họp kín theo đề nghị của chủ tọa cuộc họp hoặc của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp.

Ngày họp, nơi họp và chương trình của kỳ họp Hội đồng nhân dân phải được thông báo cho nhân dân biết, chậm nhất là năm ngày, trước ngày khai mạc kỳ họp.

Kỳ họp Hội đồng nhân dân được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân tham gia.

Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp trên đã được bầu ở địa phương, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, người đứng đầu các đoàn thể nhân dân ở địa phương và đại biểu cử tri được mời tham dự kỳ họp Hội đồng nhân dân, được phát biểu ý kiến, nhưng không biểu quyết.

Tài liệu cần thiết của kỳ họp Hội đồng nhân dân phải được gửi đến đại biểu Hội đồng nhân dân chậm nhất là năm ngày trước khi khai mạc kỳ họp.

Điều 34. (Giữ nguyên Điều 32 của Luật hiện hành)

Kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa Hội đồng nhân dân được triệu tập chậm nhất 30 ngày sau khi bầu xong đại biểu Hội đồng nhân dân. Ở miền núi, nơi nào đi lại khó khăn, thì kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân tỉnh được triệu tập chậm nhất là bốn mươi lăm ngày, sau khi bầu xong đại biểu Hội đồng nhân dân.

Kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa Hội đồng nhân dân do Chủ tịch Hội đồng nhân dân khóa trước triệu tập và chủ tọa cho đến khi Hội đồng nhân dân bầu được Chủ tịch Hội đồng nhân dân khóa mới.

Điều 35. (Giữ nguyên Điều 33 của Luật hiện hành)

Nghị quyết và biên bản các phiên họp Hội đồng nhân dân phải do Chủ tịch Hội đồng nhân dân ký chứng thực.

Chậm nhất là mười ngày, kể từ ngày bế mạc kỳ họp, nghị quyết và biên bản của kỳ họp phải được gửi lên Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp; nghị quyết và biên bản của kỳ họp Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải được gửi lên Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ.

Điều 36. (Bổ sung Điều 34 của Luật hiện hành)

 1- Tại phiên họp đầu tiên của kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa, Hội đồng nhân dân bầu Ban Thẩm tra tư cách đại biểu Hội đồng nhân dân theo sự giới thiệu của chủ tọa kỳ họp. Căn cứ báo cáo của Ban Thẩm tra tư cách đại biểu, Hội đồng nhân dân ra nghị quyết xác nhận tư cách các đại biểu Hội đồng nhân dân hoặc tuyên bố việc bầu đại biểu nào đó là không có giá trị. Trong nhiệm kỳ, nếu có bầu cử bổ sung đại biểu thì Hội đồng nhân dân thành lập Ban Thẩm tra tư cách đại biểu được bầu bổ sung. Ban Thẩm tra tư cách đại biểu hết nhiệm vụ khi việc thẩm tra tư cách đại biểu đã hoàn thành.

 2- Tại kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa, Hội đồng nhân dân bầu:

a) Chủ tịch Hội đồng nhân dân trong số các đại biểu Hội đồng nhân dân theo sự giới thiệu của chủ tọa kỳ họp.

b) Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Ủy viên của Thường trực Hội đồng nhân dân, Trưởng ban và các thành viên khác của các Ban của Hội đồng nhân dân trong số các đại biểu Hội đồng nhân dân theo sự giới thiệu của Chủ tịch Hội đồng nhân dân.

c) Chủ tịch Ủy ban nhân dân trong số các đại biểu Hội đồng nhân dân theo sự giới thiệu của Chủ tịch Hội đồng nhân dân.

d) Phó Chủ tịch và các thành viên khác của Ủy ban nhân dân theo sự giới thiệu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân.

đ) Thư ký kỳ họp của mỗi khóa Hội đồng nhân dân theo sự giới thiệu của Chủ tọa kỳ họp.

3- Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền giới thiệu và ứng cử vào vào các chức vụ quy định tại Điều này. Việc bầu cử các chức vụ quy định tại khoản 2 Điều này được tiến hành bằng cách bỏ phiếu kín theo danh sách đề cử chức vụ từng người.

Mục V - Thường trực Hội đồng nhân dân và các ban của Hội đồng nhân dân

Điều 37. (Sửa đổi, bổ sung Điều 35 của Luật hiện hành)

Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Ủy viên.

Thành viên của Thường trực Hội đồng nhân dân không thể đồng thời là thành viên của Ủy ban nhân dân cùng cấp.

Điều 38. (Sửa đổi, bổ sung Điều 36 của Luật hiện hành)

Thường trực Hội đồng nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Triệu tập và chủ tọa các kỳ họp của Hội đồng nhân dân; phối hợp với Ủy ban nhân dân trong việc chuẩn bị kỳ họp của Hội đồng nhân dân;

2- Đôn đốc, kiểm tra Ủy ban nhân dân cùng cấp và các cơ quan Nhà nước khác ở địa phương thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân;

3- Điều hòa, phối hợp hoạt động của các Ban của Hội đồng nhân dân, giữ mối liên hệ với các đại biểu Hội đồng nhân dân; gửi chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân đến Hội đồng nhân dân;

4- Tiếp dân, đôn đốc, kiểm tra và xem xét tình hình giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân; tổng hợp ý kiến, nguyện vọng của nhân dân để báo cáo tại kỳ họp của Hội đồng nhân dân;

5- Phối hợp với Ủy ban nhân dân quyết định việc đưa ra Hội đồng nhân dân hoặc đưa ra cử tri bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân phạm sai lầm theo đề nghị của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp;

6- Báo cáo về hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân lên Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp; Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh báo cáo về hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp mình lên Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ;

7- Giữ mối liên hệ và phối hợp công tác với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp: mỗi năm hai lần thông báo cho Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp về hoạt động của Hội đồng nhân dân;

Điều 39. (Sửa đổi, bổ sung Điều 38 của Luật hiện hành)

Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thành lập ba Ban: Ban Kinh tế và Ngân sách, Ban Văn hóa- Xã hội, Ban Pháp chế; nơi nào có nhiều dân tộc thì có thể thành lập Ban Dân tộc.

Phương án 1: Hội đồng nhân dân cấp huyện thành lập hai Ban: Ban Kinh tế - Xã hội; Ban Pháp chế (như luật hiện hành).

Phương án 2: Hội đồng nhân dân cấp huyện thành lập ba Ban: Ban Kinh tế, Ban Văn hóa- Xã hội và Ban Pháp chế.

Số lượng thành viên của mỗi ban do Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định. Thành viên của các ban của Hội đồng nhân dân không thể đồng thời là thành viên của Ủy ban nhân dân cùng cấp.

Trưởng ban hoặc Phó ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh hoạt động chuyên trách; Trưởng ban hoặc phó ban của Hội đồng nhân dân cấp huyện có thể hoạt động chuyên trách;

Trưởng ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện không thể đồng thời là thủ trưởng của các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân cùng cấp.

Điều 40. (Bổ sung Điều 39 Luật hiện hành)

Các Ban của Hội đồng nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Tham gia chuẩn bị các kỳ họp của Hội đồng nhân dân.

2- Thẩm tra các báo cáo, đề án do Hội đồng nhân dân hoặc Thường trực Hội đồng nhân dân phân công.

3- Giúp Hội đồng nhân dân giám sát hoạt động của Ủy ban nhân dân và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp.

4- Giúp Hội đồng nhân dân giám sát cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân trong việc thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và các nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp.

Trong khi thi hành nhiệm vụ, các Ban của Hội đồng nhân dân có quyền yêu cầu Ủy ban nhân dân, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp, cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội ở địa phương cung cấp những thông tin, tài liệu cần thiết liên quan đến hoạt động giám sát. Các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm đáp ứng yêu cầu của các ban Hội đồng nhân dân.

Điều 41. (bổ sung Điều 40 của Luật hiện hành)

Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có cơ quan giúp việc là Văn phòng Hội đồng nhân dân.

Kinh phí hoạt động của Hội đồng nhân dân do Hội đồng nhân dân quyết định và ghi vào ngân sách địa phương theo quy định của Chính phủ.

>>> Chương III

>>> Chương IV & V

Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên google+ Email cho bạn bè
 
Hơn chồng gần 20 kg, Thêu khai trong lúc bị bạo hành đã phản kháng, siết cổ chồng bằng tay và dây điện thoại. Để che giấu hành vi, cô